Có khá nhiều ưu thế so với kênh bán hàng truyền thống, không bị giới hạn về không gian, tiếp cận được với khách hàng và đối tác trên khắp thế giới, có...
Cầm số tiền vừa nhận từ máy ATM, nhét vội vào túi, người thanh niên bước nhanh ra khỏi chỗ rút tiền và phóng thẳng về nhà ở cách đó không xa. Cánh cửa sắt...
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài...
Nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch đẩy mạnh giải ngân vào dịp cuối năm, sau tín hiệu tăng chậm của dư nợ. Trong hai tháng liên tiếp, tăng trưởng tín dụng hệ...
Nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đang lồ lộ trước mắt. Nhiều người nghĩ, Việt Nam không...
Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp) đang đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hình sự năm 1999. Đáng chú ý là phương án đưa ra của tổ biên tập có nhiều điểm mới liên quan đến tội phạm kinh tế như tham ô, hối lộ, tội đầu cơ...
Ông Nguyễn Quốc Việt, Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính cho biết, dự án luật sửa đổi sẽ có 42 điều luật được sửa đổi và 16 điều bổ sung mới. Như vậy Luật Hình sự sửa đổi bổ sung sẽ có 360 điều, tuy nhiên những vấn đề đưa ra hiện nay đang còn nhiều ý kiến khác nhau.
Tranh cãi quanh "tội đầu cơ"
Một trong những sửa đổi có nhiều ý kiến tham gia nhất là quy định về tội đầu cơ (Điều 160). Đầu cơ là việc nắm giữ các loại hàng hoá, tài sản rồi bán nhằm thu lợi khi có sự biến động giá mạnh của chúng. Có nhiều ý kiến nên bỏ tội đầu cơ, vì đây chỉ là hình thức kinh doanh đơn thuần, mà trong kinh doanh phải biết nắm bắt cơ hội để sinh lời. Luật Hình sự năm 1999 quy định hành vi đầu cơ chỉ hình thành tội danh khi lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh mua vét hàng hoá có số lượng lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính gây hậu quả nghiêm trọng...
Như vậy, nếu một cá nhân, tổ chức mua hàng hoá rồi “găm” hàng, giữ hàng đợi những biến động mạnh về giá của hàng hoá mới bán để kiếm lãi cao chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong những thời điểm, hoàn cảnh nhất định như khi đất nước đang xảy ra chiến tranh, có thiên tai, dịch bệnh. Ngoài những thời điểm trên việc găm hàng hoá, vơ vét hàng hoá để làm giá không cấu thành tội hình sự.
Theo tổ biên tập, hành vi đầu cơ trong mọi hoàn cảnh có chịu sự điều chỉnh của một số văn bản dưới luật. Tuy nhiên, những văn bản dưới luật chỉ đơn thuần chỉ xử lí hành chính những hành vi đầu cơ nên sức răn đe không lớn.
Tổ biên tập đã không bỏ tội đầu cơ, mà đưa thêm hành vi đầu cơ “trong tình hình có khó khăn về kinh tế”, vì đây là hành vi lợi dụng sự khó khăn của xã hội để trục lợi, là cạnh tranh không lành mạnh.
Tuy nhiên, khi đưa thêm điều kiện hoàn cảnh để cấu thành hành vi đầu cơ này vào thì phải quy định rõ thế nào là “trong tình hình có khó khăn về kinh tế”.
Việc có nên bỏ tội đầu cơ hay không chưa có được ý kiến thống nhất, nhưng số người đầu cơ bị xử lí theo Điều 160 từ khi Luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực đến nay hầu như hiếm xảy ra.
Thay đổi mức hình phạt ở nhiều tội liên quan đến kinh tế
Theo dự thảo thì sẽ bỏ 14/29 tội danh áp dụng mức hình phạt này hiện nay, trong đó có tội tham ô, nhận hối lộ. Đây là điểm có nhiều ý kiến khác nhau, trong thời điểm cả nước đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng liệu việc bỏ án tử hình có làm giảm sức răn đe?
Có ý kiến cho rằng mục đích của việc xử lí hành vi tham nhũng, nhận hối lộ là truy thu lại tài sản. Khi xử lí hành vi này chỉ cần người vi phạm không còn giữ vị trí nào trong bộ máy Nhà nước thì sẽ không thể tái phạm được vì đối tượng của tội danh này có sự khác biệt.
Mặt khác, nếu áp dụng hình phạt tử hình lại càng khó thu hồi được tài sản thì Nhà nước vẫn là bên chịu thiệt.
Theo dự thảo, giá trị tài sản và giá trị thiệt hại phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội liên quan đến tài sản sẽ được xác định lại mức định lượng tối thiểu.
Như tội chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cố tình huỷ hoại tài sản... trong Luật Hình sự năm 1999 quy định mức định lượng tối thiểu là 500 nghìn đồng thì nay dự thảo nâng lên 2 triệu đồng. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nâng mức tối thiểu từ 1 triệu lên 4 triệu đồng. Tội trốn thuế, gian lận thuế hiện đang quy định mức định lượng tối thiểu là 50 triệu sẽ nâng lên 150 triệu đồng...
Những quy định này bắt nguồn từ những biến động của nền kinh tế hiện nay và do có những thay đổi về các mức thuế với sự ra đời của các luật thuế.
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài phải có tính khả thi, doanh nghiệp phải có năng lực tài chính đáp ứng yêu cầu đầu tư ra nước ngoài và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Để có giấy phép đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp cần phải có văn bản cho phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư cấp hoặc hợp đồng, bản thỏa thuận với bên nước ngoài về dự án đầu tư, giải trình về mục tiêu của dự án, nguồn gốc các khoản vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cũng phải nói rõ về tình hình tài chính của mình, hình thức đầu tư, phương thức chuyển vốn, phương thức chuyển lợi nhuận về nước. Việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài bằng tiền phải tuân thủ các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối.
Thủ tục vẫn nhiêu khê
Quy định là vậy, nhưng trong thực tế việc đầu tư ra nước ngoài đang vấp phải nhiều khó khăn do những thủ tục quản lý từ phía cơ quan Nhà nước.
Thứ nhất, việc cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài chưa được phân cấp, còn tập trung ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Các doanh nghiệp ở địa phương muốn đầu tư ra nước ngoài đều phải tốn thời gian đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xin phép.
Tính ra, doanh nghiệp muốn hoàn thiện thủ tục để có được giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải qua 11 đầu mối các cơ quan quản lý trong nước.
Khó khăn thứ hai, các doanh nghiệp trong nước muốn có giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải có văn bản cho phép hoặc thoả thuận với bên nước ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia lại có quy định chỉ được phép đầu tư vào quốc gia đó khi đã được sự cho phép của quốc gia mà doanh nghiệp đầu tư mang quốc tịch. Điều này để tránh được nạn “rửa tiền” thông qua việc đầu tư ra nước ngoài, quốc gia tiếp nhận đầu tư muốn những đồng tiền “sạch” chảy vào thị trường của mình.
Sự trái nhau về những quy định cấp phép đầu tư này sẽ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp muốn đem vốn ra nước ngoài kinh doanh.
Thứ ba, vướng mắc nhiều nhất hiện nay là vấn đề chuyển vốn ra nước ngoài để thực hiện đầu tư. Thông tư số 01/2001/TT- NHNN ngày 19/1/2001 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, doanh nghiệp phải mở một tài khoản tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và mọi giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vào Việt Nam liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp phải được thực hiện thông qua tài khoản này.
Ngoài ra doanh nghiệp còn phải làm thủ tục đăng ký với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại địa phương mình có trụ sở chính về việc mở tài khoản ngoại tệ và tiến độ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài.
Như vậy, cùng một việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp phải hai lần đăng ký mở tài khoản, với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và với ngân hàng thương mại khác hoạt động tại Việt Nam. Doanh nghiệp chỉ được phép sử dụng nguồn ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của mình mở tại ngân hàng được phép để chuyển ra nước ngoài góp vốn đầu tư trên cơ sở quy định tại giấy phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Ngoài ra, để mở được tài khoản tại ngân hàng phục vụ việc chuyển tiền ra nước ngoài đầu tư doanh nghiệp phải chứng minh được dự án đầu tư, giấy phép đầu tư do nước ngoài cấp...
Như vậy giai đoạn làm khảo sát, thăm dò, thiết kế dự án của doanh nghiệp tại nước ngoài sẽ không được chuyển tiền ra nước ngoài. Đây sẽ là khó khăn cho doanh nghiệp khi hoạt động chuẩn bị cho dự án đầu tư, trong khi đây là giai đoạn cần thiết để có được giấy phép chấp thuận đầu tư của nước doanh nghiệp muốn đầu tư.
Khó khăn thứ tư là doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về địa bàn đầu tư, về các quy định pháp lý về đầu tư... Thường thì các doanh nghiệp tự tìm hiểu, nhưng đây là một điều khó khăn cần các cơ quan chức năng, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại các thị trường cung cấp cho doanh nghiệp.
Đôi khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam cùng đầu tư một lĩnh vực tại một thị trường dẫn đến sự cạnh tranh không cần thiết và các cơ quan chức năng phải là đầu mối cung cấp thông tin về từng thị trường khi có doanh nghiệp trong nước tìm hiểu để tránh tình trạng này.
Pháp lý hoá hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Một khó khăn nữa là các quy định pháp lý về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp trong nước chưa được hình thành trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các quy định lâu nay chỉ dừng lại ở những khoản đầu tư trực tiếp, có nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam bỏ vốn đầu tư, tham gia hoạt động quản lý dự án đầu tư tại nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài có nghĩa là nhà đầu tư Việt Nam không trực tiếp tham gia quản lý dự án đầu tư thì lại chưa được đề cập đến, trong khi hình thức đầu tư này đang trở nên phổ biến hiện nay. Rồi quy định về đầu tư vào nước thứ ba cũng cần được pháp lý hoá.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Đức Hoà thừa nhận các quy định pháp lý về đầu tư ra nước ngoài cũng cần được hoàn thiện hơn vì hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và nhu cầu mở rộng thị trường ra nước ngoài là điều tất yếu.
Hiện nay vẫn chưa có được một kế hoạch tổng thể xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, trong thời gian tới các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ đưa ra danh mục ngành hàng khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, địa bàn chiến lược khuyến khích đầu tư... và đây sẽ là điểm mà các doanh nghiệp trong nước quan tâm nhiều. Nâng cao sự hỗ trợ của cơ quan quản lý đối với các doanh nghiệp khi phát sinh các tranh chấp pháp lý tại nước mà doanh nghiệp đầu tư.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và các quy định về đăng ký, khai thuế, quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật quản lý thuế. Cụ thể, 10 loại thu nhập buộc phải chịu thuế thu nhập cá nhân, gồm: Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng bằng tiền hoặc hiện vật; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại theo quy định của Luật thương mại; thu nhập từ thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
Cũng theo Nghị định này,14 loại thu nhập được xếp vào loại thu nhập miễn thuế, trong đó có: Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, anh chị em ruột... với nhau; thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng giữa vợ chồng, người thân huyết thống với nhau; thu nhập từ tiền lãi gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, thu nhập từ lãi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ kiều hối; tiền lương hưu; tiền học bổng; thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phí nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động...
Nghị định quy định Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập tính thuế từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, công được phân định thành 7 bậc thuế.
Mức chịu thuế suất thấp nhất là 5% đối với thu nhập hàng tháng đến 5 triệu đồng (60 triệu/năm); 10% đối với mức thu nhập từ 5-10 triệu đồng/tháng (trên 60-120 triệu/năm).
Mức thuế suất áp dụng cao nhất là 35% đối với thu nhập hàng tháng trên 80 triệu đồng (trên 960 triệu đồng/năm).
Ngày 4/9, tập đoàn cung cấp các giải pháp nhân sự và tuyển dụng Navigos Group đã công bố kết quả sơ bộ bản báo cáo khảo sát lương tại Việt Nam. Báo cáo cho thấy lương đã tăng trung bình 19,5% trong giai đoạn 2007-2008. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây và cao hơn nhiều so với năm 2006 và 2007 - là những năm chứng kiến sự bùng nổ kinh tế tại Việt Nam nhưng mức tăng lương cũng chỉ tăng lần lượt là 9% và 12,6%. Navigos đưa ra mức tăng trưởng về lương trên dựa vào những phân tích số liệu lương và thưởng từ tháng 4/2007 đến tháng 3/2008 của hơn 180 công ty hoạt động trong 15 lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế.
Ngày 4/9/2008, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang chuẩn bị trình Chính phủ ban hành nghị định về hoạt động thông tin tín dụng tư nhân. Dự thảo quy định: công ty tín dụng tư nhân phải có vốn pháp định 30 tỷ đồng, có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, nhân lực có trình độ chuyên môn về tài chính ngân hàng; phương án kinh doanh khả thi và có tối thiểu 20 tổ chức cấp tín dụng cam kết thực hiện cung cấp tín dụng tư nhân.
Ngoài ra, hoạt động của tín dụng tư nhân chỉ trong phạm vi: thu thập, xử lý, lưu giữ thông tin và cung cấp sản phẩm tín dụng tư nhân. tín dụng tư nhân là thông tin định danh của khách hàng vay và những người có quan hệ với khách hàng vay; thông tin về lịch sử cấp tín dụng, thuê tài sản, mua hàng trả góp, trả chậm và các giao dịch khác.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành văn bản yêu cầu các ngân hàng thương mại, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải báo cáo tình hình cung cấp tín dụng cho hoạt động xuất khẩu.
Cụ thể, trước ngày 10/9/2008, các đối tượng trên phải báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước số liệu hoạt động cấp tín dụng đối với lĩnh vực từ 31/3/2008 đến ngày 31/8/2008 theo các chỉ tiêu về cấp tín dụng bằng ngoại tệ, cấp tín dụng bằng VND và những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu cũng như đề xuất hướng xử lý.
Hoạt động quản lý này nhằm để Ngân hàng Nhà nướccó cơ sở đánh giá tình hình hỗ trợ xuất khẩu và xem xét xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến cơ chế hoạt động tín dụng nói trên sau quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 về việc cho vay bằng ngoại tệ.
Ngày 11/8/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 03/2008/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức tín dụng và định chế tài chính.
Với các ngân hàng thương mại phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản sau: có phương án hoạt động dịch vụ ngoại hối; đảm bảo trang thiết bị và điều kiện vật chất; đủ cán bộ chuyên ngành; hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ; tuân thủ quy định Ngân hàng Nhà nước về đảm bảo an toàn hoạt động; kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế.
Với các định chế tài chính phi ngân hàng, điều kiện tương tự như với ngân hàng, chỉ khác ở chỗ: kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động dịch vụ ngoại hối trên thị trường nội địa.
Đối với công ty tài chính: phải đảm bảo đủ điều kiện như với ngân hàng nhưng không cần điều kiện “kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế” nhưng buộc phải kinh doanh có lãi trong 3 năm gần nhất.
Sáng nay (8/8), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu có văn bản số 7171/NHNN-CNH gửi ban trù bị thành lập các ngân hàng thương mại cổ phần thông báo ý kiến chỉ đạo Dừng cấp phép cho các ngân hàng mới Thủ tướng Chính phủ. Theo văn bản này, ngày 29/7/2008, Văn phòng Chính phủ đã có công văn số 4944/VPCP-KTTH thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ “yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tiêu chí thành lập ngân hàng thương mại cổ phần trong nước cho phù hợp. Trong khi chưa ban hành tiêu chí mới, tạm dừng chưa cho phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần mới”. Ngân hàng Nhà nước cho biết hiện đang rà soát, nghiên cứu điều chỉnh quy định về việc thành lập ngân hàng thương mại cổ phần. Vì vậy, cơ quan này tạm dừng việc xem xét tiếp đề nghị cấp giấy phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần mới của ban trù bị thành lập các ngân hàng thương mại cổ phần theo chỉ đạo trên của Thủ tướng Chính phủ. Mặt khác, trong thời gian chờ ban hành quy định mới về thành lập ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng Nhà nước cũng tạm dừng việc tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép mới.
Tổ chức nước ngoài liên doanh hoặc lập công ty tài chính 100% vốn cần có tổng tài sản trên 10 tỷ USD.
Đây là một trong những điều kiện chính được quy định tại Nghị định 81/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, do Chính phủ ban hành ngày 29/7.
Cụ thể, bên cạnh một số điều kiện nhất định, tổ chức nước ngoài trong công ty tài chính liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin phép thành lập.
Theo nghị định trên, công ty tài chính liên doanh là công ty tài chính được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam) và bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài là công ty tài chính được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của 1 hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài.
Về hình thức huy động vốn, đối với các công ty tài chính chuyên ngành hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, lĩnh vực thẻ không thực hiện nghiệp vụ huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài ra, công ty tài chính được phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá trị khác để huy động vốn.
*Theo Nghị định số 22/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/2/2006, điều kiện cấp giấy phép cho ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam trước hết là phải có tổng tài sản ít nhất 20 tỷ USD vào năm trước năm xin cấp giấy phép.
Khuyến cáo từ Ngân hàng Nhà nước về hiện tượng người dân đổ xô đi mua ngoại tệ do lo ngại tác động từ giá xăng dầu mới. Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước, ngay sau khi Bộ Tài chính công bố tăng giá bán lẻ xăng dầu vào sáng nay (21/7), trên thị trường tự do, một số đối tượng đầu cơ đã lợi dụng yếu tố tâm lý đẩy giá bán Đô la Mỹ (USD) lên cao trên mức 17.000 VND/USD để trục lợi. Trước đó, cuối tuần qua, giá USD bán ra trên thị trường này đã giảm mạnh, xuống thấp hơn mức giá niêm yết của các ngân hàng thương mại, dưới mức 16.800 VND/USD.
Ngày 15/7, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành văn bản hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng lãi suất theo quyết định ra ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Văn bản nêu rõ việc điều chỉnh lãi suất cho vay cố định được thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết trước ngày 19/5/2008, về nguyên tắc tổ chức tín dụng và khách hàng vay tiếp tục thực hiện lãi suất cho vay đó.