Luật thuế thu nhập cá nhân sẽ chính thức được thực thi từ ngày 1/1/2009. Theo ông Vũ Văn Trường, Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính, dự kiến, tổng số người có mã số thuế sẽ vào khoảng 15 triệu người.
Trong đó, đông nhất là người làm công ăn lương với khoảng 11 - 11,5 triệu người. Tuy nhiên, hiện có khoảng 3 triệu trường hợp đã có mã số thuế. Cơ quan thuế cần phải rà soát, cấp mới mã số thuế cho khoảng 12 triệu người nữa.
Riêng đối với người phụ thuộc, phải có mã số chứng minh nhân dân. Dự kiến đến khi có cơ sở số liệu tập trung thì những người phụ thuộc sẽ có mã số thuế.
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài phải có tính khả thi, doanh nghiệp phải có năng lực tài chính đáp ứng yêu cầu đầu tư ra nước ngoài và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Để có giấy phép đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp cần phải có văn bản cho phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư cấp hoặc hợp đồng, bản thỏa thuận với bên nước ngoài về dự án đầu tư, giải trình về mục tiêu của dự án, nguồn gốc các khoản vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cũng phải nói rõ về tình hình tài chính của mình, hình thức đầu tư, phương thức chuyển vốn, phương thức chuyển lợi nhuận về nước. Việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài bằng tiền phải tuân thủ các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối.
Thủ tục vẫn nhiêu khê
Quy định là vậy, nhưng trong thực tế việc đầu tư ra nước ngoài đang vấp phải nhiều khó khăn do những thủ tục quản lý từ phía cơ quan Nhà nước.
Thứ nhất, việc cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài chưa được phân cấp, còn tập trung ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Các doanh nghiệp ở địa phương muốn đầu tư ra nước ngoài đều phải tốn thời gian đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xin phép.
Tính ra, doanh nghiệp muốn hoàn thiện thủ tục để có được giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải qua 11 đầu mối các cơ quan quản lý trong nước.
Khó khăn thứ hai, các doanh nghiệp trong nước muốn có giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải có văn bản cho phép hoặc thoả thuận với bên nước ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia lại có quy định chỉ được phép đầu tư vào quốc gia đó khi đã được sự cho phép của quốc gia mà doanh nghiệp đầu tư mang quốc tịch. Điều này để tránh được nạn “rửa tiền” thông qua việc đầu tư ra nước ngoài, quốc gia tiếp nhận đầu tư muốn những đồng tiền “sạch” chảy vào thị trường của mình.
Sự trái nhau về những quy định cấp phép đầu tư này sẽ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp muốn đem vốn ra nước ngoài kinh doanh.
Thứ ba, vướng mắc nhiều nhất hiện nay là vấn đề chuyển vốn ra nước ngoài để thực hiện đầu tư. Thông tư số 01/2001/TT- NHNN ngày 19/1/2001 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, doanh nghiệp phải mở một tài khoản tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và mọi giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vào Việt Nam liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp phải được thực hiện thông qua tài khoản này.
Ngoài ra doanh nghiệp còn phải làm thủ tục đăng ký với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại địa phương mình có trụ sở chính về việc mở tài khoản ngoại tệ và tiến độ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài.
Như vậy, cùng một việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp phải hai lần đăng ký mở tài khoản, với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và với ngân hàng thương mại khác hoạt động tại Việt Nam. Doanh nghiệp chỉ được phép sử dụng nguồn ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của mình mở tại ngân hàng được phép để chuyển ra nước ngoài góp vốn đầu tư trên cơ sở quy định tại giấy phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Ngoài ra, để mở được tài khoản tại ngân hàng phục vụ việc chuyển tiền ra nước ngoài đầu tư doanh nghiệp phải chứng minh được dự án đầu tư, giấy phép đầu tư do nước ngoài cấp...
Như vậy giai đoạn làm khảo sát, thăm dò, thiết kế dự án của doanh nghiệp tại nước ngoài sẽ không được chuyển tiền ra nước ngoài. Đây sẽ là khó khăn cho doanh nghiệp khi hoạt động chuẩn bị cho dự án đầu tư, trong khi đây là giai đoạn cần thiết để có được giấy phép chấp thuận đầu tư của nước doanh nghiệp muốn đầu tư.
Khó khăn thứ tư là doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về địa bàn đầu tư, về các quy định pháp lý về đầu tư... Thường thì các doanh nghiệp tự tìm hiểu, nhưng đây là một điều khó khăn cần các cơ quan chức năng, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại các thị trường cung cấp cho doanh nghiệp.
Đôi khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam cùng đầu tư một lĩnh vực tại một thị trường dẫn đến sự cạnh tranh không cần thiết và các cơ quan chức năng phải là đầu mối cung cấp thông tin về từng thị trường khi có doanh nghiệp trong nước tìm hiểu để tránh tình trạng này.
Pháp lý hoá hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Một khó khăn nữa là các quy định pháp lý về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp trong nước chưa được hình thành trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các quy định lâu nay chỉ dừng lại ở những khoản đầu tư trực tiếp, có nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam bỏ vốn đầu tư, tham gia hoạt động quản lý dự án đầu tư tại nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài có nghĩa là nhà đầu tư Việt Nam không trực tiếp tham gia quản lý dự án đầu tư thì lại chưa được đề cập đến, trong khi hình thức đầu tư này đang trở nên phổ biến hiện nay. Rồi quy định về đầu tư vào nước thứ ba cũng cần được pháp lý hoá.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Đức Hoà thừa nhận các quy định pháp lý về đầu tư ra nước ngoài cũng cần được hoàn thiện hơn vì hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và nhu cầu mở rộng thị trường ra nước ngoài là điều tất yếu.
Hiện nay vẫn chưa có được một kế hoạch tổng thể xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, trong thời gian tới các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ đưa ra danh mục ngành hàng khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, địa bàn chiến lược khuyến khích đầu tư... và đây sẽ là điểm mà các doanh nghiệp trong nước quan tâm nhiều. Nâng cao sự hỗ trợ của cơ quan quản lý đối với các doanh nghiệp khi phát sinh các tranh chấp pháp lý tại nước mà doanh nghiệp đầu tư.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và các quy định về đăng ký, khai thuế, quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật quản lý thuế. Cụ thể, 10 loại thu nhập buộc phải chịu thuế thu nhập cá nhân, gồm: Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng bằng tiền hoặc hiện vật; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại theo quy định của Luật thương mại; thu nhập từ thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
Cũng theo Nghị định này,14 loại thu nhập được xếp vào loại thu nhập miễn thuế, trong đó có: Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, anh chị em ruột... với nhau; thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng giữa vợ chồng, người thân huyết thống với nhau; thu nhập từ tiền lãi gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, thu nhập từ lãi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ kiều hối; tiền lương hưu; tiền học bổng; thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phí nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động...
Nghị định quy định Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập tính thuế từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, công được phân định thành 7 bậc thuế.
Mức chịu thuế suất thấp nhất là 5% đối với thu nhập hàng tháng đến 5 triệu đồng (60 triệu/năm); 10% đối với mức thu nhập từ 5-10 triệu đồng/tháng (trên 60-120 triệu/năm).
Mức thuế suất áp dụng cao nhất là 35% đối với thu nhập hàng tháng trên 80 triệu đồng (trên 960 triệu đồng/năm).
Ngày 4/9, tập đoàn cung cấp các giải pháp nhân sự và tuyển dụng Navigos Group đã công bố kết quả sơ bộ bản báo cáo khảo sát lương tại Việt Nam. Báo cáo cho thấy lương đã tăng trung bình 19,5% trong giai đoạn 2007-2008. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây và cao hơn nhiều so với năm 2006 và 2007 - là những năm chứng kiến sự bùng nổ kinh tế tại Việt Nam nhưng mức tăng lương cũng chỉ tăng lần lượt là 9% và 12,6%. Navigos đưa ra mức tăng trưởng về lương trên dựa vào những phân tích số liệu lương và thưởng từ tháng 4/2007 đến tháng 3/2008 của hơn 180 công ty hoạt động trong 15 lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế.
Ngày 4/9/2008, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang chuẩn bị trình Chính phủ ban hành nghị định về hoạt động thông tin tín dụng tư nhân. Dự thảo quy định: công ty tín dụng tư nhân phải có vốn pháp định 30 tỷ đồng, có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, nhân lực có trình độ chuyên môn về tài chính ngân hàng; phương án kinh doanh khả thi và có tối thiểu 20 tổ chức cấp tín dụng cam kết thực hiện cung cấp tín dụng tư nhân.
Ngoài ra, hoạt động của tín dụng tư nhân chỉ trong phạm vi: thu thập, xử lý, lưu giữ thông tin và cung cấp sản phẩm tín dụng tư nhân. tín dụng tư nhân là thông tin định danh của khách hàng vay và những người có quan hệ với khách hàng vay; thông tin về lịch sử cấp tín dụng, thuê tài sản, mua hàng trả góp, trả chậm và các giao dịch khác.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành văn bản yêu cầu các ngân hàng thương mại, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải báo cáo tình hình cung cấp tín dụng cho hoạt động xuất khẩu.
Cụ thể, trước ngày 10/9/2008, các đối tượng trên phải báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước số liệu hoạt động cấp tín dụng đối với lĩnh vực từ 31/3/2008 đến ngày 31/8/2008 theo các chỉ tiêu về cấp tín dụng bằng ngoại tệ, cấp tín dụng bằng VND và những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu cũng như đề xuất hướng xử lý.
Hoạt động quản lý này nhằm để Ngân hàng Nhà nướccó cơ sở đánh giá tình hình hỗ trợ xuất khẩu và xem xét xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến cơ chế hoạt động tín dụng nói trên sau quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 về việc cho vay bằng ngoại tệ.
Theo nguồn tin từ website của Ngân hàng Nhà nước, tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông là tiền giấy (tiền cotton và tiền polymer), tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, đang lưu hành hợp pháp nhưng bị rách nát, hư hỏng được phân loại theo các tiêu chuẩn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định. Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông được phân làm ba loại: - Tiền rách nát, hư hỏng do quá trình lưu thông; - Tiền rách nát, hư hỏng do quá trình bảo quản; - Tiền bị lỗi kỹ thuật do quá trình in, đúc của nhà sản xuất.
Nhiều công ty chứng khoán vẫn lưỡng lự trong việc chuyển giao quản lý tiền nhà đầu tư, khi hạn 1/10 đã gần kề.
Cuối tháng 7 vừa qua, Ủy ban Chứng khoán có Công văn số 611/UBCK-QLKD yêu cầu tất cả các công ty chứng khoán quản lý tách biệt tiền giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trước ngày 1/10/2008. Mốc hẹn này cũng đã được xê dịch nhiều lần trước đó, do nhiều công ty chứng khoán vẫn còn lưỡng lự...
Và lần này, kế hoạch chuyển giao xem ra vẫn còn nhiều vướng mắc, cả chủ quan và khách quan.
Có thực sự khó?
Theo quy định tại Quyết định 27 của Bộ Tài chính, các công ty chứng khoán sẽ phải chuyển giao việc quản lý tiền của nhà đầu tư sang các ngân hàng thương mại.
Cuối năm 2007, một số ngân hàng thương mại như Ngân hàng Á châu (ACB), Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) đã chủ động xây dựng sản phẩm liên quan và “chào hàng” với các công ty chứng khoán. Một số thành viên như Công ty Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SBS), Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương (VCBS)… cũng đã chủ động triển khai kế hoạch này.
Thủ tướng vừa quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch, tiến độ và các biện pháp triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan và các địa phương thực hiện chương trình, kế hoạch và các biện pháp triển khai thực hiện luật; phải tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện của các bộ, ngành và các địa phương để báo cáo Thủ tướng mỗi quý một lần.
Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo cũng phải đề xuất, đôn đốc các bộ, cơ quan sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; chỉ đạo, hướng dẫn Ban chỉ đạo triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện đúng các chương trình, kế hoạch và biện pháp của Ban chỉ đạo Trung ương đề ra.
Ban chỉ đạo Trung ương hoạt động theo quy chế do Trưởng ban quyết định. Trưởng ban chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về hoạt động của Ban; quyết định về quy chế hoạt động và việc phối hợp giữa các thành viên của Ban chỉ đạo; thay mặt Thủ tướng quyết định những chủ trương, biện pháp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng để triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân và các nhiệm vụ đề ra.
Ban Chỉ đạo Trung ương có Tổ thường trực giúp việc đặt tại Bộ Tài chính. Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng làm Trưởng ban. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh làm Phó trưởng ban.
Luật Thuế Thu nhập cá nhân đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2009.
Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp) đang đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hình sự năm 1999. Đáng chú ý là phương án đưa ra của tổ biên tập có nhiều điểm mới liên quan đến tội phạm kinh tế như tham ô, hối lộ, tội đầu cơ...
Ông Nguyễn Quốc Việt, Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính cho biết, dự án luật sửa đổi sẽ có 42 điều luật được sửa đổi và 16 điều bổ sung mới. Như vậy Luật Hình sự sửa đổi bổ sung sẽ có 360 điều, tuy nhiên những vấn đề đưa ra hiện nay đang còn nhiều ý kiến khác nhau.
Tranh cãi quanh "tội đầu cơ"
Một trong những sửa đổi có nhiều ý kiến tham gia nhất là quy định về tội đầu cơ (Điều 160). Đầu cơ là việc nắm giữ các loại hàng hoá, tài sản rồi bán nhằm thu lợi khi có sự biến động giá mạnh của chúng. Có nhiều ý kiến nên bỏ tội đầu cơ, vì đây chỉ là hình thức kinh doanh đơn thuần, mà trong kinh doanh phải biết nắm bắt cơ hội để sinh lời.
Ngày 11/8/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 03/2008/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức tín dụng và định chế tài chính.
Với các ngân hàng thương mại phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản sau: có phương án hoạt động dịch vụ ngoại hối; đảm bảo trang thiết bị và điều kiện vật chất; đủ cán bộ chuyên ngành; hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ; tuân thủ quy định Ngân hàng Nhà nước về đảm bảo an toàn hoạt động; kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế.
Với các định chế tài chính phi ngân hàng, điều kiện tương tự như với ngân hàng, chỉ khác ở chỗ: kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động dịch vụ ngoại hối trên thị trường nội địa.
Đối với công ty tài chính: phải đảm bảo đủ điều kiện như với ngân hàng nhưng không cần điều kiện “kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế” nhưng buộc phải kinh doanh có lãi trong 3 năm gần nhất.