Có khá nhiều ưu thế so với kênh bán hàng truyền thống, không bị giới hạn về không gian, tiếp cận được với khách hàng và đối tác trên khắp thế giới, có...
Cầm số tiền vừa nhận từ máy ATM, nhét vội vào túi, người thanh niên bước nhanh ra khỏi chỗ rút tiền và phóng thẳng về nhà ở cách đó không xa. Cánh cửa sắt...
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài...
Nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch đẩy mạnh giải ngân vào dịp cuối năm, sau tín hiệu tăng chậm của dư nợ. Trong hai tháng liên tiếp, tăng trưởng tín dụng hệ...
Nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đang lồ lộ trước mắt. Nhiều người nghĩ, Việt Nam không...
Nhiều công ty chứng khoán vẫn lưỡng lự trong việc chuyển giao quản lý tiền nhà đầu tư, khi hạn 1/10 đã gần kề.
Cuối tháng 7 vừa qua, Ủy ban Chứng khoán có Công văn số 611/UBCK-QLKD yêu cầu tất cả các công ty chứng khoán quản lý tách biệt tiền giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trước ngày 1/10/2008. Mốc hẹn này cũng đã được xê dịch nhiều lần trước đó, do nhiều công ty chứng khoán vẫn còn lưỡng lự...
Và lần này, kế hoạch chuyển giao xem ra vẫn còn nhiều vướng mắc, cả chủ quan và khách quan.
Có thực sự khó?
Theo quy định tại Quyết định 27 của Bộ Tài chính, các công ty chứng khoán sẽ phải chuyển giao việc quản lý tiền của nhà đầu tư sang các ngân hàng thương mại.
Cuối năm 2007, một số ngân hàng thương mại như Ngân hàng Á châu (ACB), Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) đã chủ động xây dựng sản phẩm liên quan và “chào hàng” với các công ty chứng khoán. Một số thành viên như Công ty Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SBS), Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương (VCBS)… cũng đã chủ động triển khai kế hoạch này.
Tuy nhiên, đến nay, đã hơn một năm kể từ ngày có Quyết định 27 của Bộ Tài chính, mới chỉ có 13 thành viên đã hoàn thành việc chuyển giao. Còn lại, phần lớn đều đang trong quá trình chuẩn bị, hoặc đang gặp một số trở ngại theo như các thông tin phản ánh.
Và chiều 20/8, một lần nữa các thành viên thị trường, nhà quản lý thông qua Hiệp hội kinh doanh Chứng khoán đã cùng ngồi lại với nhau để tìm tiếng nói chung trong kế hoạch này (trước đó cũng đã có 3 cuộc họp tương tự). Tại đây, khó khăn được đề cập nhiều hơn là giải pháp.
Và đó có phải là khó khăn thực sự hay là “cách” để một số công ty chứng khoán “hoãn binh”?
Là một thành viên chủ động triển khai khá sớm (1 trong 4 thành viên hợp tác với Techcombank từ cuối năm 2007 trong kế hoạch này), đại diện Công ty Chứng khoán Hải Phòng (HASECO) cho rằng ngoài khó khăn trong tìm đối tác ngân hàng, công nghệ kết nối, còn là những rủi ro phức tạp liên quan đến nhà đầu tư và các trách nhiệm pháp lý.
Ông Đoàn Văn Minh, Tổng giám đốc HASECO, cho rằng việc chuyển giao, tách bạch tiền của nhà đầu tư giao cho ngân hàng quản lý sẽ giảm bớt một phần công việc cho các công ty chứng khoán. Nhưng điều mà ông lo ngại hiện nay là những rủi ro pháp lý khi xẩy ra sự cố, việc quy định trách nhiệm chưa rõ ràng giữa ngân hàng hay công ty chứng khoán có thể làm nảy sinh những tranh chấp phức tạp.
Cùng lo ngại trên, ông Nguyễn Quang Bảo, Phó giám đốc Bộ phận Dịch vụ chứng khoán, Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI), đặt vấn đề rằng trong trường hợp hệ thống kết nối không ăn nhập, nghẽn hoặc đứt đường truyền dẫn tới nghẽn lệnh hoặc trượt lệnh, trượt cơ hội của nhà đầu tư thì ai chịu trách nhiệm?
Trong những trường hợp đó, thiệt hại của nhà đầu tư công ty chứng khoán phải bồi thường. Còn trách nhiệm cụ thể của các bên như đơn vị cung cấp phần mềm, bên ngân hàng lại chưa có quy định rõ ràng.
Một số ý kiến khác còn cho rằng họ chịu thụ động khi tham gia kết nối hệ thống với ngân hàng đối tác. Thực tế, họ đã thử nghiệm, nhưng rồi lại “tạm nghỉ” vì ngân hàng nâng cấp hệ thống…
Một ý kiến đại diện công ty chứng khoán lập luận rằng hệ thống ATM của ngân hàng có thể tạm nghỉ, có thể trục trặc và người rút tiền có thể tới trực tiếp tới ngân hàng giao dịch; còn trong trường hợp này, trục trặc đi cùng với rủi ro, lợi ích của nhà đầu tư và cả những tranh chấp pháp lý.
Với những trở ngại trên, một điểm chung có từ ý kiến nhiều công ty chứng khoán là nên tạm dừng việc chuyển giao quản lý tiền của nhà đầu tư cho các ngân hàng. Họ cần có thêm thời gian chuẩn bị cũng như cơ chế chính sách liên quan được xây dựng cụ thể và hoàn thiện hơn, đặc biệt là về những quy định trách nhiệm nói trên.
Hay vì lợi ích?
Cuối năm 2007, khi Techcombank thông báo hợp tác cùng 4 công ty chứng khoán quản lý tiền của nhà đầu tư, an toàn kỹ thuật là yếu tố đầu tiên mà đầu mối này khẳng định.
Theo chuyên gia kỹ thuật của Techcombank, việc kết nối này gặp một số khó khăn nhất định do hạ tầng kỹ thuật của các công ty chứng khoán khác nhau. Tuy nhiên, khi các đầu mối ngồi lại để cùng xử lý thì việc khắc phục không quá khó khăn. Ngoài ra, Techcombank luôn có giải pháp dự phòng trước các sự cố đường truyền, giảm thiểu ảnh hưởng đến giao dịch của nhà đầu tư.
Tại cuộc họp chiều 20/8, đại diện Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng cho biết đã kết nối thành công với 10 công ty chứng khoán trong kế hoạch này và luôn có giải pháp dự phòng rủi ro kỹ thuật.
“Hệ thống chúng tôi hiện có hoàn toàn đáp ứng được cả triệu giao dịch cùng lúc. Còn rủi ro trong quá trình thực hiện thì bất cứ khoản thanh toán nào cũng có thể bị rủi ro chứ không riêng gì với công ty chứng khoán. Quan trọng là các bên cần phối hợp, hợp tác để có hướng xử lý”, đại diện BIDV nói.
Đó cũng là ý chính của ông Nguyễn Văn Dũng, Phó giám đốc Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HASTC), khi cho rằng thời gian qua khó khăn trong câu chuyện này được nói nhiều, nhưng về giải pháp thì lại ít được đề cập đến; những giải pháp đó chỉ có thể có được khi các đầu mối ngồi lại với nhau.
Ông Dũng đưa ra khả năng lý do chính trong sự lần lữa của kế hoạch là “các công ty chứng khoán chưa muốn thực hiện quy định này”. “Với chủ trương này, ngân hàng cần, nhà đầu tư cần, nhưng chỉ có công ty chứng khoán là có vấn đề về lợi ích”, ông Dũng nói thêm.
Giải pháp mà Phó giám đốc HASTC đưa ra là Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán đứng ra làm đầu mối, kết nối giữa các bên để xử lý các khó khăn, cũng như lựa chọn một đơn vị cung cấp phần mềm theo một chuẩn để kết nối với các ngân hàng.
Bà Thục Anh, Phó trưởng ban Kinh doanh, Ủy ban Chứng khoán, cho biết trong thời gian qua Ủy ban đã tiến hành khảo sát tại một số nước trong khu vực có đặc thù giống Việt Nam, đã thực hiện tách biệt tài khoản tiền của nhà đầu tư, và nhận thấy hầu hết các đầu mối đều có những rào cản rủi ro rất tốt, lỗi đường truyền rất hạn hữu, chi phí cũng không quá lớn.
Còn tại Việt Nam, “việc công ty chứng khoán kêu khó chủ yếu là liên quan đến lợi ích quản lý tiền nhà đầu tư. Các công ty chứng khoán cần nhìn thẳng vào sự thực để mà tuân thủ quy định”, bà Thục Anh nói.
Mặt khác, theo bà Thục Anh, trong điều kiện hệ thống kiểm tra, giám sát của Ủy ban Chứng khoán còn hạn chế, việc tách bạch quản lý tiền nhà đầu tư cũng là tăng thêm điều kiện bảo vệ quyền lợi của họ. Và đây cũng là chủ trương được nhiều thành viên thị trường ủng hộ, theo hướng minh bạch hóa quản lý tài khoản của nhà đầu tư.
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài phải có tính khả thi, doanh nghiệp phải có năng lực tài chính đáp ứng yêu cầu đầu tư ra nước ngoài và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Để có giấy phép đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp cần phải có văn bản cho phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư cấp hoặc hợp đồng, bản thỏa thuận với bên nước ngoài về dự án đầu tư, giải trình về mục tiêu của dự án, nguồn gốc các khoản vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cũng phải nói rõ về tình hình tài chính của mình, hình thức đầu tư, phương thức chuyển vốn, phương thức chuyển lợi nhuận về nước. Việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài bằng tiền phải tuân thủ các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối.
Thủ tục vẫn nhiêu khê
Quy định là vậy, nhưng trong thực tế việc đầu tư ra nước ngoài đang vấp phải nhiều khó khăn do những thủ tục quản lý từ phía cơ quan Nhà nước.
Thứ nhất, việc cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài chưa được phân cấp, còn tập trung ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Các doanh nghiệp ở địa phương muốn đầu tư ra nước ngoài đều phải tốn thời gian đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xin phép.
Tính ra, doanh nghiệp muốn hoàn thiện thủ tục để có được giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải qua 11 đầu mối các cơ quan quản lý trong nước.
Khó khăn thứ hai, các doanh nghiệp trong nước muốn có giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải có văn bản cho phép hoặc thoả thuận với bên nước ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia lại có quy định chỉ được phép đầu tư vào quốc gia đó khi đã được sự cho phép của quốc gia mà doanh nghiệp đầu tư mang quốc tịch. Điều này để tránh được nạn “rửa tiền” thông qua việc đầu tư ra nước ngoài, quốc gia tiếp nhận đầu tư muốn những đồng tiền “sạch” chảy vào thị trường của mình.
Sự trái nhau về những quy định cấp phép đầu tư này sẽ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp muốn đem vốn ra nước ngoài kinh doanh.
Thứ ba, vướng mắc nhiều nhất hiện nay là vấn đề chuyển vốn ra nước ngoài để thực hiện đầu tư. Thông tư số 01/2001/TT- NHNN ngày 19/1/2001 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, doanh nghiệp phải mở một tài khoản tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và mọi giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vào Việt Nam liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp phải được thực hiện thông qua tài khoản này.
Ngoài ra doanh nghiệp còn phải làm thủ tục đăng ký với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại địa phương mình có trụ sở chính về việc mở tài khoản ngoại tệ và tiến độ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài.
Như vậy, cùng một việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp phải hai lần đăng ký mở tài khoản, với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và với ngân hàng thương mại khác hoạt động tại Việt Nam. Doanh nghiệp chỉ được phép sử dụng nguồn ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của mình mở tại ngân hàng được phép để chuyển ra nước ngoài góp vốn đầu tư trên cơ sở quy định tại giấy phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Ngoài ra, để mở được tài khoản tại ngân hàng phục vụ việc chuyển tiền ra nước ngoài đầu tư doanh nghiệp phải chứng minh được dự án đầu tư, giấy phép đầu tư do nước ngoài cấp...
Như vậy giai đoạn làm khảo sát, thăm dò, thiết kế dự án của doanh nghiệp tại nước ngoài sẽ không được chuyển tiền ra nước ngoài. Đây sẽ là khó khăn cho doanh nghiệp khi hoạt động chuẩn bị cho dự án đầu tư, trong khi đây là giai đoạn cần thiết để có được giấy phép chấp thuận đầu tư của nước doanh nghiệp muốn đầu tư.
Khó khăn thứ tư là doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về địa bàn đầu tư, về các quy định pháp lý về đầu tư... Thường thì các doanh nghiệp tự tìm hiểu, nhưng đây là một điều khó khăn cần các cơ quan chức năng, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại các thị trường cung cấp cho doanh nghiệp.
Đôi khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam cùng đầu tư một lĩnh vực tại một thị trường dẫn đến sự cạnh tranh không cần thiết và các cơ quan chức năng phải là đầu mối cung cấp thông tin về từng thị trường khi có doanh nghiệp trong nước tìm hiểu để tránh tình trạng này.
Pháp lý hoá hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Một khó khăn nữa là các quy định pháp lý về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp trong nước chưa được hình thành trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các quy định lâu nay chỉ dừng lại ở những khoản đầu tư trực tiếp, có nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam bỏ vốn đầu tư, tham gia hoạt động quản lý dự án đầu tư tại nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài có nghĩa là nhà đầu tư Việt Nam không trực tiếp tham gia quản lý dự án đầu tư thì lại chưa được đề cập đến, trong khi hình thức đầu tư này đang trở nên phổ biến hiện nay. Rồi quy định về đầu tư vào nước thứ ba cũng cần được pháp lý hoá.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Đức Hoà thừa nhận các quy định pháp lý về đầu tư ra nước ngoài cũng cần được hoàn thiện hơn vì hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và nhu cầu mở rộng thị trường ra nước ngoài là điều tất yếu.
Hiện nay vẫn chưa có được một kế hoạch tổng thể xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, trong thời gian tới các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ đưa ra danh mục ngành hàng khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, địa bàn chiến lược khuyến khích đầu tư... và đây sẽ là điểm mà các doanh nghiệp trong nước quan tâm nhiều. Nâng cao sự hỗ trợ của cơ quan quản lý đối với các doanh nghiệp khi phát sinh các tranh chấp pháp lý tại nước mà doanh nghiệp đầu tư.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và các quy định về đăng ký, khai thuế, quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật quản lý thuế. Cụ thể, 10 loại thu nhập buộc phải chịu thuế thu nhập cá nhân, gồm: Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng bằng tiền hoặc hiện vật; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại theo quy định của Luật thương mại; thu nhập từ thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
Cũng theo Nghị định này,14 loại thu nhập được xếp vào loại thu nhập miễn thuế, trong đó có: Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, anh chị em ruột... với nhau; thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng giữa vợ chồng, người thân huyết thống với nhau; thu nhập từ tiền lãi gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, thu nhập từ lãi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ; thu nhập từ kiều hối; tiền lương hưu; tiền học bổng; thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phí nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động...
Nghị định quy định Biểu thuế lũy tiến từng phần áp dụng đối với thu nhập tính thuế từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, công được phân định thành 7 bậc thuế.
Mức chịu thuế suất thấp nhất là 5% đối với thu nhập hàng tháng đến 5 triệu đồng (60 triệu/năm); 10% đối với mức thu nhập từ 5-10 triệu đồng/tháng (trên 60-120 triệu/năm).
Mức thuế suất áp dụng cao nhất là 35% đối với thu nhập hàng tháng trên 80 triệu đồng (trên 960 triệu đồng/năm).
Ngày 4/9, tập đoàn cung cấp các giải pháp nhân sự và tuyển dụng Navigos Group đã công bố kết quả sơ bộ bản báo cáo khảo sát lương tại Việt Nam. Báo cáo cho thấy lương đã tăng trung bình 19,5% trong giai đoạn 2007-2008. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây và cao hơn nhiều so với năm 2006 và 2007 - là những năm chứng kiến sự bùng nổ kinh tế tại Việt Nam nhưng mức tăng lương cũng chỉ tăng lần lượt là 9% và 12,6%. Navigos đưa ra mức tăng trưởng về lương trên dựa vào những phân tích số liệu lương và thưởng từ tháng 4/2007 đến tháng 3/2008 của hơn 180 công ty hoạt động trong 15 lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế.
Ngày 4/9/2008, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang chuẩn bị trình Chính phủ ban hành nghị định về hoạt động thông tin tín dụng tư nhân. Dự thảo quy định: công ty tín dụng tư nhân phải có vốn pháp định 30 tỷ đồng, có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, nhân lực có trình độ chuyên môn về tài chính ngân hàng; phương án kinh doanh khả thi và có tối thiểu 20 tổ chức cấp tín dụng cam kết thực hiện cung cấp tín dụng tư nhân.
Ngoài ra, hoạt động của tín dụng tư nhân chỉ trong phạm vi: thu thập, xử lý, lưu giữ thông tin và cung cấp sản phẩm tín dụng tư nhân. tín dụng tư nhân là thông tin định danh của khách hàng vay và những người có quan hệ với khách hàng vay; thông tin về lịch sử cấp tín dụng, thuê tài sản, mua hàng trả góp, trả chậm và các giao dịch khác.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành văn bản yêu cầu các ngân hàng thương mại, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải báo cáo tình hình cung cấp tín dụng cho hoạt động xuất khẩu.
Cụ thể, trước ngày 10/9/2008, các đối tượng trên phải báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước số liệu hoạt động cấp tín dụng đối với lĩnh vực từ 31/3/2008 đến ngày 31/8/2008 theo các chỉ tiêu về cấp tín dụng bằng ngoại tệ, cấp tín dụng bằng VND và những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu cũng như đề xuất hướng xử lý.
Hoạt động quản lý này nhằm để Ngân hàng Nhà nướccó cơ sở đánh giá tình hình hỗ trợ xuất khẩu và xem xét xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến cơ chế hoạt động tín dụng nói trên sau quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 về việc cho vay bằng ngoại tệ.
Thủ tướng vừa quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch, tiến độ và các biện pháp triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, cơ quan và các địa phương thực hiện chương trình, kế hoạch và các biện pháp triển khai thực hiện luật; phải tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện của các bộ, ngành và các địa phương để báo cáo Thủ tướng mỗi quý một lần.
Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo cũng phải đề xuất, đôn đốc các bộ, cơ quan sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; chỉ đạo, hướng dẫn Ban chỉ đạo triển khai Luật Thuế thu nhập cá nhân ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện đúng các chương trình, kế hoạch và biện pháp của Ban chỉ đạo Trung ương đề ra.
Ban chỉ đạo Trung ương hoạt động theo quy chế do Trưởng ban quyết định. Trưởng ban chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về hoạt động của Ban; quyết định về quy chế hoạt động và việc phối hợp giữa các thành viên của Ban chỉ đạo; thay mặt Thủ tướng quyết định những chủ trương, biện pháp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng để triển khai thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân và các nhiệm vụ đề ra.
Ban Chỉ đạo Trung ương có Tổ thường trực giúp việc đặt tại Bộ Tài chính. Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng làm Trưởng ban. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh làm Phó trưởng ban.
Luật Thuế Thu nhập cá nhân đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2009.
Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp) đang đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hình sự năm 1999. Đáng chú ý là phương án đưa ra của tổ biên tập có nhiều điểm mới liên quan đến tội phạm kinh tế như tham ô, hối lộ, tội đầu cơ...
Ông Nguyễn Quốc Việt, Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính cho biết, dự án luật sửa đổi sẽ có 42 điều luật được sửa đổi và 16 điều bổ sung mới. Như vậy Luật Hình sự sửa đổi bổ sung sẽ có 360 điều, tuy nhiên những vấn đề đưa ra hiện nay đang còn nhiều ý kiến khác nhau.
Tranh cãi quanh "tội đầu cơ"
Một trong những sửa đổi có nhiều ý kiến tham gia nhất là quy định về tội đầu cơ (Điều 160). Đầu cơ là việc nắm giữ các loại hàng hoá, tài sản rồi bán nhằm thu lợi khi có sự biến động giá mạnh của chúng. Có nhiều ý kiến nên bỏ tội đầu cơ, vì đây chỉ là hình thức kinh doanh đơn thuần, mà trong kinh doanh phải biết nắm bắt cơ hội để sinh lời.
Ngày 11/8/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 03/2008/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức tín dụng và định chế tài chính.
Với các ngân hàng thương mại phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản sau: có phương án hoạt động dịch vụ ngoại hối; đảm bảo trang thiết bị và điều kiện vật chất; đủ cán bộ chuyên ngành; hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ; tuân thủ quy định Ngân hàng Nhà nước về đảm bảo an toàn hoạt động; kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế.
Với các định chế tài chính phi ngân hàng, điều kiện tương tự như với ngân hàng, chỉ khác ở chỗ: kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động dịch vụ ngoại hối trên thị trường nội địa.
Đối với công ty tài chính: phải đảm bảo đủ điều kiện như với ngân hàng nhưng không cần điều kiện “kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế” nhưng buộc phải kinh doanh có lãi trong 3 năm gần nhất.
Sáng nay (8/8), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu có văn bản số 7171/NHNN-CNH gửi ban trù bị thành lập các ngân hàng thương mại cổ phần thông báo ý kiến chỉ đạo Dừng cấp phép cho các ngân hàng mới Thủ tướng Chính phủ. Theo văn bản này, ngày 29/7/2008, Văn phòng Chính phủ đã có công văn số 4944/VPCP-KTTH thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ “yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều chỉnh tiêu chí thành lập ngân hàng thương mại cổ phần trong nước cho phù hợp. Trong khi chưa ban hành tiêu chí mới, tạm dừng chưa cho phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần mới”. Ngân hàng Nhà nước cho biết hiện đang rà soát, nghiên cứu điều chỉnh quy định về việc thành lập ngân hàng thương mại cổ phần. Vì vậy, cơ quan này tạm dừng việc xem xét tiếp đề nghị cấp giấy phép thành lập ngân hàng thương mại cổ phần mới của ban trù bị thành lập các ngân hàng thương mại cổ phần theo chỉ đạo trên của Thủ tướng Chính phủ. Mặt khác, trong thời gian chờ ban hành quy định mới về thành lập ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng Nhà nước cũng tạm dừng việc tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép mới.
Tổ chức nước ngoài liên doanh hoặc lập công ty tài chính 100% vốn cần có tổng tài sản trên 10 tỷ USD.
Đây là một trong những điều kiện chính được quy định tại Nghị định 81/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, do Chính phủ ban hành ngày 29/7.
Cụ thể, bên cạnh một số điều kiện nhất định, tổ chức nước ngoài trong công ty tài chính liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin phép thành lập.
Theo nghị định trên, công ty tài chính liên doanh là công ty tài chính được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam) và bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài là công ty tài chính được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của 1 hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài.
Về hình thức huy động vốn, đối với các công ty tài chính chuyên ngành hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, lĩnh vực thẻ không thực hiện nghiệp vụ huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài ra, công ty tài chính được phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá trị khác để huy động vốn.
*Theo Nghị định số 22/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28/2/2006, điều kiện cấp giấy phép cho ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam trước hết là phải có tổng tài sản ít nhất 20 tỷ USD vào năm trước năm xin cấp giấy phép.