ANZ phát triển dịch vụ mobile banking tại Việt Nam

Sau khi được phép thành lập ngân hàng bán lẻ sở hữu 100% ở Việt nam, ngân hàng ANZ đã giới thiệu dịch vụ mobile banking cho các khách hàng ở Hà Nội và Hồ Chí Minh.

ANZ bắt đầu vào thị trường việt nam từ năm 1993 với giấy phép kinh doanh là chi nhành ngân hàng nước ngoài và vận hành mạng lưới ATM quy mô nhỏ phục vụ cho khách hàng. Nhưng từ tuần trước ANZ việt nam đã trở thành ngân hàng nước ngoài đầy đủ tư cách hoạt động kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng. Đây cũng là một hệ quả của thỏa thuận mở cửa vào WTO của Việt nam về lĩnh vực ngân hàng đạt được năm ngoái.
Ngay sau đó ANZ Việt Nam giới thiệu dịch vụ mobile banking miễn phí, khởi đầu là phục vụ cho khách hàng ở Hà Nội và tp Hồ Chí Minh.

Theo điều tra của các tổ chức Khảo sát thị trường, khoảng 18.5% dân số 85.2 triệu người việt nam sử dụng điện thoại di động, tuy nhiên tỷ lệ đăng ký sử dụng mobile thì càng những năm về đây càng tăng nhanh với khoảng 800.000 số tài khoản mới/ tháng

ANZ vẫn xem Việt Nam là thị trường trọng điểm

Ông Alex Thursby, Giám đốc điều hành khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Ngân hàng ANZ nói về chiến lược của ANZ tại Việt Nam.
Ông đánh giá thế nào về cơ hội đầu tư tại Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều biến động như hiện nay?
Mặc dù hiện tại nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động, tuy nhiên ANZ vẫn hoàn toàn tin tưởng vào cơ hội đầu tư tại Việt Nam trong dài hạn. Chúng tôi cho rằng tốc độ tăng trưởng trong năm 2008 sẽ chậm lại một chút để Chính phủ Việt Nam có thể kiềm chế lạm phát một cách nhanh chóng.
Một quốc gia với dân số hơn 86 triệu người thực sự có nhu cầu rất lớn về các sản phẩm ngân hàng. Hiện nay mới chỉ có 10% dân số Việt Nam có tài khoản ngân hàng, tỷ lệ này vào khoảng 35% tại các thành phố lớn như Hà Nội và Tp.HCM.
Một lý do khác để lạc quan là vai trò và những cam kết của Chính phủ Việt Nam. Từ năm 2000, Chính phủ đã đẩy mạnh tự do hóa nền kinh tế. Việt Nam hiện vẫn đạt mức tăng trưởng 7,5%/năm so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đứng sau Trung Quốc về tăng trưởng kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đang tăng mạnh.

Sự cạnh tranh của ngân hàng ngoại

Theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), từ ngày 1/4/2007 các ngân hàng 100% vốn ngoài được phép thành lập chi nhánh tại Việt Nam. Đó là điều kiện “cần”.
Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, điều  kiện “đủ” hầu như cũng đã chín muồi: với dân số 85 triệu nhưng mới chỉ có khoảng 10% người dân mở tài khoản tại ngân hàng và hơn 2/3 là dân số trẻ, Việt Nam đang là mục tiêu trong trung hạn của các ngân hàng ngoại.
Do vậy, tuy âm thầm nhưng cũng rất quyết liệt, các định chế tài chính ngoại đang tăng cường thâm nhập thị trường tài chính-ngân hàng Việt Nam. (Xem thêm
ANZ vẫn xem Việt Nam là thị trường trọng điểm)

ANZ, Morgan Stanley nhận định về kinh tế Việt Nam

Kinh tế Việt Nam tiếp tục có những dấu hiệu ổn định là nhận định của các chuyên gia phân tích tại các Ngân hàng ANZ (Úc) và Ngân hàng Morgan Stanley (Mỹ), trong những báo cáo được công bố mới đây. Cuối tháng 8, các chuyên gia phân tích của Morgan Stanley đưa ra nhận định về 3 điểm nổi bật của kinh tế vĩ mô xét từ góc độ chính sách tiền tệ.

Thứ nhất, tỷ lệ lạm phát đã được kiềm giữ đáng kể.

Thứ hai, sức ép cán cân thanh toán đã bớt nặng nề do tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong nước chậm lại và sụt giảm nhu cầu đầu cơ.

Trong tháng 7, mức nhập khẩu thép đã giảm 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái do thị trường bất động sản đã bớt nóng; nhập khẩu ôtô giảm 53,5% so với cùng kỳ năm ngoái do chính sách thuế đối với mặt hàng này. Nhu cầu về vàng đã từng tăng 55% trong nửa đầu năm 2008 nhưng lệnh cấm nhập khẩu vàng có thể làm giảm áp lực nhập khẩu.

Kết quả là, thâm hụt thương mại đã giảm từ đỉnh cao 49,5% GDP trong tháng 4 xuống 17,7% GDP trong tháng 7.

Thứ ba, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã khá ổn định. Các nhà đầu tư vẫn tin vào câu chuyện cấu trúc dài hạn của Việt Nam, bất chấp những khó khăn vĩ mô trong nửa đầu năm 2008. Số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, FDI cam kết từ tháng 4 đến tháng 7 là 39 tỷ USD.

Tương tự, lượng vốn FDI được giải ngân trong thời gian này là 4,3 tỷ USD, trong khi con số của quý 1 chỉ là 1,7 tỷ USD. Tuy nhiên, khu vực ngân hàng vẫn chưa thực sự hồi phục. Với chính sách thắt chặt tiền tệ, sức ép đối với khu vực này vẫn còn. Ở cấp độ vi mô, mặt bằng lãi suất mới đang dần được thiết lập. Động lực tăng trưởng kinh tế đã từng dựa dẫm nhiều vào cơ chế tín dụng dễ dãi trong thời gian trước.

Hiện nay hệ thống trung gian đang gặp căng thẳng. Lãi suất liên ngân hàng vẫn ở mức cao, cho thấy điều kiện thanh khoản vẫn còn hạn hẹp. Điều này ảnh hưởng đến các ngân hàng cổ phần và ngân hàng liên doanh, có nguồn vốn phụ thuộc vào nhiều vào thị trường tiền tệ liên ngân hàng.

Morgan Stanley cũng nhận định rằng, vẫn còn quá sớm để Ngân hàng Nhà nước tính đến chuyện cắt giảm lãi suất đáng kể. Các điều kiện thanh khoản vẫn còn khó khăn vì lạm phát cao và chính sách lãi suất thực âm có lợi cho người đi vay hơn người cho vay.

Ngân hàng của Mỹ này cũng đề xuất hai mục tiêu quan trọng trong chính sách mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tính đến khi quyết định cắt giảm lãi suất:

Thứ nhất, lạm phát phải giảm tương đối để lãi suất trở về mức thực dương;

Thứ hai, điều kiện thanh khoản của khu vực ngân hàng đã được cải thiện rõ nét, khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tiền gửi được thu hẹp và lãi suất liên ngân hàng giảm.

Bản báo cáo dự đoán, điều này sẽ xảy ra sớm nhất là quý 1/2009.