Có khá nhiều ưu thế so với kênh bán hàng truyền thống, không bị giới hạn về không gian, tiếp cận được với khách hàng và đối tác trên khắp thế giới, có...
Cầm số tiền vừa nhận từ máy ATM, nhét vội vào túi, người thanh niên bước nhanh ra khỏi chỗ rút tiền và phóng thẳng về nhà ở cách đó không xa. Cánh cửa sắt...
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài...
Nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch đẩy mạnh giải ngân vào dịp cuối năm, sau tín hiệu tăng chậm của dư nợ. Trong hai tháng liên tiếp, tăng trưởng tín dụng hệ...
Nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đang lồ lộ trước mắt. Nhiều người nghĩ, Việt Nam không...
Từ đầu năm 2008, khi những dấu hiệu khó khăn của nền kinh tế bắt đầu xuất hiện như lạm phát tăng cao, thị trường chứng khoán và bất động sản đi xuống, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam rơi vào khó khăn về mặt thanh khoản.
Nếu không có sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thì các ngân hàng này còn có thể rơi vào tình trạng xấu hơn. Điều đáng nói là tình trạng này chủ yếu xảy ra đối với các ngân hàng trong nước, đặc biệt là ngân hàng thương mại cổ phần mới thành lập, trong khi các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hầu như không bị tác động bởi sự khó khăn này.
Trước hết, theo người viết, hệ thống ngân hàng, chủ yếu là ngân hàng thương mại cổ phần, đã đầu tư quá nhiều vào chứng khoán và bất động sản - hai lĩnh vực được coi là nhạy cảm nhất trước các biến động của nền kinh tế. Tính thanh khoản trên hai thị trường này đã giảm đáng kể từ đầu năm 2008, vì vậy ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các khách hàng.
Thứ hai, việc thắt chặt chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá từ đầu năm cũng làm giảm đáng kể lượng cung tiền trong nền kinh tế, trong khi nhu cầu về vốn cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh đã được duyệt từ trước, vẫn đang rất lớn.
Thứ ba, việc có nhiều ngân hàng ra đời trong thời gian gần đây làm cho nhu cầu về vốn tăng cao, trong lúc trình độ và kinh nghiệm kinh doanh ngân hàng còn yếu, cộng với nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức ít, đành phải vay mượn từ thị trường liên ngân hàng (inter-bank). Lãi suất trên thị trường này có lúc lên trên 40%/năm là dẫn chứng cho tình trạng này.
Nguyên nhân thứ tư là từ đầu năm 2008 đến nay, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận về mặt nguyên tắc, phải đặt một lượng tiền bằng vốn điều lệ vào Ngân hàng Nhà nước nhưng cho đến nay mới chỉ có hai ngân hàng được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động. Điều này có nghĩa là một lượng tiền lớn đã được rút ra khỏi nền kinh tế.
Một lý do khác là việc điều chuyển khoảng 52.000 tỷ đồng của ngân sách nhà nước tại các ngân hàng thương mại quốc doanh về Ngân hàng Nhà nước cũng góp phần làm cho tình hình thêm khó khăn.
Tất cả các nguyên nhân nói trên đều dẫn đến tình trạng căng thẳng về mặt thanh khoản của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua. Hậu quả của tình trạng này có thể rất lâu dài, khi mà các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí vốn vay cao, khả năng trả nợ của doanh nghiệp yếu đi, nợ xấu gia tăng.
Trong hoàn cảnh các ngân hàng thương mại cổ phần phải “chạy ăn từng bữa” như vậy thì các chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn khá "ung dung", và thậm chí còn có vốn để cho vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao.
Sự khác biệt đầu tiên, theo người viết, nằm ở chính sách khách hàng của các ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài.
Để có thanh khoản tốt và nguồn vốn bền vững thì các ngân hàng trước hết phải dựa vào nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các khách hàng có dòng lưu chuyển tiền (cash flow) lớn như xăng dầu, điện, thương mại, … thay vì dựa vào nguồn vốn thị trường liên ngân hàng. Vì vậy, chính sách khách hàng phải hướng về phát triển nguồn vốn.
Từ trước tới nay, đối với các ngân hàng trong nước, chính sách ưu đãi thường dành cho các khách hàng có dư nợ tín dụng cao và vay trả thường xuyên. Xét cho cùng, chiến lược này không sai, vì đối với một nền kinh tế đang phát triển nhanh, nhu cầu về vốn lớn như nước ta thì tín dụng luôn là mảnh đất màu mỡ để các ngân hàng “quảng canh, thâm canh”. Nhưng khi say sưa mở rộng đối tượng cho vay, đơn giản hoá các thủ tục cho vay, các ngân hàng trong nước đôi lúc quên mất rằng rủi ro tín dụng (credit risk) và rủi ro thị trường (market risk) là rất lớn, và luôn tiềm ẩn sau các hồ sơ vay vốn đẹp đẽ.
Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất (subprime crisis) ở Mỹ, bong bóng bất động sản và chứng khoán ở nước ta từ đầu năm đến nay là những ví dụ tiêu biểu cho các rủi ro này.
Ngược lại, đối với các ngân hàng nước ngoài, phát triển nguồn vốn, chứ không phải tín dụng, mới là chính sách được ưu tiên hàng đầu của họ.
Các ngân hàng nước ngoài luôn huy động được một lượng vốn nhàn rỗi rất lớn với chi phí thấp từ khách hàng của họ. Điều này giúp họ có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu giải ngân cho chính khách hàng của họ. Ngoài ra, điều này cũng giúp họ có vốn để cung cấp cho thị trường liên ngân hàng với lãi suất rất cao như thời gian qua.
Chính sách này có thể không mang lại lợi nhuận lớn như các ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng nó luôn bảo đảm sự phát triển ổn định và thoả mãn được nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Để có nguồn vốn lớn và ổn định, các ngân hàng nước ngoài đã xây dựng cho mình một chính sách phát triển hợp lý trên cơ sở cân đối giữa dư nợ và nguồn vốn theo những tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, họ xây dựng một đội ngũ nhân viên giỏi về hoạt động maketing và thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Những nhân viên này luôn chủ động liên hệ với khách hàng để biết được kế hoạch kinh doanh sắp tới của khách hàng như kế hoạch vay vốn, trả nợ, thanh toán tiền hàng, mua bán ngoại tệ.
Điều này đã giúp ngân hàng chủ động về mặt nguồn vốn trước khi giao dịch xảy ra, tránh được tình trạng “nước đến chân mới nhảy”. Các nhân viên này cũng được tiếp cận nhiều nguồn thông tin, giúp họ có khả năng dự báo được xu hướng thị trường.
Một yếu tố nữa giúp các ngân hàng nước ngoài giảm được rủi ro thanh khoản là nợ quá hạn, nợ xấu của họ thường rất thấp so với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, các khoản nợ thường được thanh toán đúng hạn. Có được điều đó là do các khoản vay của họ thường được lựa chọn kỹ càng, được quyết định trên cơ sở các tiêu chí của thị trường, và ít khi bị chi phối bởi các ý muốn chủ quan của cán bộ tín dụng.
Nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch đẩy mạnh giải ngân vào dịp cuối năm, sau tín hiệu tăng chậm của dư nợ.
Trong hai tháng liên tiếp, tăng trưởng tín dụng hệ thống ngân hàng rơi vào “vùng đáy” kể từ đầu năm. Cụ thể, trong tháng 7 và 8, tỷ lệ tương ứng chỉ là 0,7% và 0,79%.
“Vùng đáy” đó lại đặt trong bối cảnh khó khăn thanh khoản đã giảm bớt, nhiều ngân hàng cùng lên tiếng tăng cường giải ngân, giảm lãi suất hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu… Từ đây có thể thấy hoạt động cho vay của các ngân hàng đang gặp khó khăn.
Khó khăn đó trước hết có từ lãi suất cho vay quá cao, hạn chế nhiều nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và vay tiêu dùng. Kế đến là những mảng tín dụng vốn hấp dẫn và chiếm tỷ trọng lớn trước đây là cho vay đầu tư chứng khoán, bất động sản đã và đang bị thu hẹp.
Trong khi đó, nguồn thu chính của các ngân hàng thương mại hiện vẫn là từ tín dụng (chiếm từ 70% - 90%). Với tốc độ tăng trưởng liên tục ở mức thấp trong hai tháng nói trên, mục tiêu lợi nhuận năm nay của nhiều thành viên đang đứng trước trở ngại nếu không có chuyển biến trong thời gian tới.
Theo đó, tăng cường giải ngân đang là một hướng lựa chọn. Và với mức tăng trên dưới 18% so với cuối năm 2007, các ngân hàng vẫn còn một dư địa khá lớn theo hạn mức 30% năm nay để đẩy mạnh cho vay trong thời gian còn lại của năm.
Từ tháng 9 này, một loạt ngân hàng thương mại tuyên bố sẽ dành hàng nghìn tỷ đồng để cho vay, tập trung ở nhóm khách hàng truyền thống và khối doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu…
Tại Ngân hàng Á châu (ACB), kế hoạch đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng những tháng cuối năm đã được thông qua, bắt đầu từ tháng 9 này. Đó là kế hoạch cung 5.000 tỷ đồng cho đối tượng là các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể và các cá nhân.
Tại Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), đó là kế hoạch tăng thêm 3.000 tỷ đồng cho chương trình tài trợ xuất khẩu từ cuối tháng 9 này, sau khi đã giải ngân 2.000 tỷ đồng trong hai tháng trước đó (riêng tài trợ xuất khẩu). Đi cùng với tăng cường giải ngân, Eximbank thực hiện giảm lãi suất USD để kích thích và hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn.
Tại Ngân hàng Ngoài quốc doanh (VPBank), theo Tổng giám đốc Lê Đắc Sơn, một nguồn tín dụng khoảng 2.000 tỷ đồng đang được xem xét để hỗ trợ cho những nhu cầu mua bất động sản tiêu dùng, cũng như những dự án bất động sản thực sự hiệu quả.
Ngay cả ở lĩnh vực cho vay đầu tư chứng khoán, một số ngân hàng thương mại cũng đặt mục tiêu giải ngân, nhưng hạn mức tín dụng thấp hơn. Như tại Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) là kế hoạch giải ngân 300 tỷ đồng từ ngày 1/9; Eximbank cũng tăng hạn mức tín dụng loại này lên 800 tỷ đồng.
Một thành viên mới, Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank), cũng đang xem xét kế hoạch giải ngân cho các nhu cầu vay vốn đầu tư chứng khoán. Ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietBank, cho biết với vốn điều lệ 3.300 tỷ đồng, hạn mức tối đa cho nhóm nhu cầu này là 660 tỷ đồng, nhưng trước mắt ngân hàng có thể giải ngân một nửa theo danh mục và căn hạn mức cụ thể đối với các loại chứng khoán.
Và để thu hút thêm khác hàng vay vốn, từ cuối tháng 9 này, Ngân hàng Quốc tế (VIB) bắt đầu triển khai chương trình cho vay, tài trợ ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được tài trợ tới 95% trị giá L/C hoặc 90% trị giá hợp đồng với lãi suất vay VND chỉ tương đương như lãi suất vay USD.
Ngoài ra, một số ngân hàng khác như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà ĐBSCL cũng đang triển khai gói tín dụng hàng nghìn tỷ đồng hỗ trợ thu mua lúa gạo, thu mua và chế biến thủy sản…
Với những kế hoạch trên, cùng áp lực giải ngân vì lợi nhuận, có thể tăng trưởng tín dụng từ tháng 9 sẽ có cải thiện. Nhưng, với lãi suất vay vốn cao như hiện nay, tốc độ tăng trưởng không chỉ theo ý muốn chủ quan của các ngân hàng thương mại.
Nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đang lồ lộ trước mắt. Nhiều người nghĩ, Việt Nam không bị tác động nhiều, nhưng một nỗi lo từ khu vực xuất khẩu đang dần hiện hữu. Tại hội nghị giao ban trực tuyến bàn về giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu những tháng cuối năm, Bộ Công Thương đặt ra mục tiêu xuất khẩu cả năm tương đương 61,2 tỷ USD. Đến nay, xuất khẩu đã đi được 2/3 chặng đường nhưng điều muốn nói ở đây không phải vấn đề doanh số mà là câu chuyện rủi ro thanh toán xuất khẩu cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.
Theo bà Nguyễn Thanh Sơn, trợ lý đầu tư Ngân hàng Liên Việt, trong bối cảnh phức tạp của thị trường tài chính hiện nay, xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng bởi yếu tố cung cầu khi người dân nước nhập khẩu giảm chi tiêu.
Tuy nhiên, một loại rủi ro khác nguy hiểm hơn, đó là rủi ro thanh toán.
Hiện tại, một tỷ trọng khá lớn doanh số xuất khẩu Việt Nam thực hiện thông qua thanh toán thư tín dụng L/C theo hình thức tương đối chắc ăn là “không hủy ngang, có xác nhận”.
Theo đó, để tham gia vào hoạt động thanh toán xuất khẩu thì phải có 4 bên: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng bên xuất khẩu và ngân hàng bên nhập khẩu. Hình thức “không hủy ngang có xác nhận” được hiểu là bất cứ một điều khoản nào của hợp đồng thư tín dụng mà bên nhập khẩu thay đổi sẽ không có hiệu lực cho đến khi được sự đồng ý của bên xuất khẩu.
Trong trường hợp xuất khẩu vào những thị trường rủi ro thì ngoài 2 ngân hàng nói trên còn có sự hiện diện của một ngân hàng trung gian thứ 3 với vai trò “ngân hàng xác nhận”.
“Ngân hàng xác nhận” được coi gần như một công cụ bảo hiểm, có uy tín đối với ngân hàng của bên xuất khẩu và ngân hàng bên nhập khẩu. Ví dụ, khi xuất khẩu hàng sang Nga, một ngân hàng Nga nhận thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu Việt Nam nhưng nếu nhà xuất khẩu Việt Nam chưa yên tâm về ngân hàng đối tác, có thể yêu cầu ngân hàng Nga tìm một ngân hàng trung gian và độ tin cậy cao như HSBC xác nhận.
Giả định ngân hàng Nga vỡ nợ hoặc rơi vào tình trạng phá sản, không thanh toán được, thì HSBC phải thay mặt thanh toán cho bên Việt Nam.
Sẽ bớt lo nếu tất cả doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thực hiện thanh toán theo phương thức “không hủy ngang có xác nhận” nhưng thực tế, còn một tỷ lệ không nhỏ hàng xuất khẩu vẫn được thanh toán theo hình thức tín dụng thư thông thường hoặc thanh toán trực tiếp.
Điều này được hiểu là khi bán hàng, doanh nghiệp phó thác niềm tin vào đối tác và ít chú ý đến các biện pháp phòng tránh rủi ro. Giám đốc một ban của Tập đoàn Dệt may cho biết, khá nhiều doanh nghiệp vẫn thanh toán theo hình thức bên mua chuyển thẳng tiền vào tài khoản bên bán, không nhờ ngân hàng trả hộ, thu hộ và càng không bao giờ biết đến những phương thức thanh toán an toàn như “không hủy ngang có xác nhận”.
Vậy, doanh nghiệp xuất khẩu và ngân hàng phải làm gì trong bối cảnh hệ thống tài chính trên thế giới đang diễn ra vô cùng phức tạp?
Ông Phạm Văn Thành - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu (Eximbank) - cho biết: “Eximbank rất cảnh giác với những đối tác khi có thông tin không tốt và đương nhiên sẽ yêu cầu có ngân hàng thứ ba xác nhận dù phải trả phí xác nhận”.
Cùng với đó, Eximbank nhờ có một hệ thống đại lý rộng khắp trên thế giới nên việc luôn chuẩn bị phương án dự phòng khi đối tác gặp rủi ro. Ngoài ra, ngân hàng này còn theo dõi rất sát mọi nguồn tin về diễn biến tình hình trên thế giới, kết hợp với dự đoán của các nhà phân tích để có thể kết đưa ra quyết định nhanh nhất.
Nhưng để an toàn hơn và tránh rủi ro, ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam lưu ý đối với doanh nghiệp xuất khẩu rằng, khi thanh toán quốc tế phải lựa chọn ngân hàng đại diện cho hai bên thật uy tín và ràng buộc chặt vào hợp đồng.
Tiếp theo, doanh nghiệp phải tham khảo ý kiến tư vấn từ các ngân hàng trong nước để tìm hiểu rõ hơn về ngân hàng thanh toán mà đối tác đưa ra. Ngoài ra, doanh nghiệp nên sẵn sàng bỏ ra một khoản phí để trả cho ngân hàng xác nhận.
Để làm được việc này, theo ông Ân, các ngân hàng thương mại trong nước cho vay xuất khẩu cũng phải sát cánh với doanh nghiệp, để hỗ trợ doanh nghiệp.
Ngoài ra, một vấn đề khá nhạy cảm trong hoàn cảnh hiện nay là các ngân hàng thương mại trong nước có quan hệ tín dụng với khách hàng xuất khẩu, phục vụ đơn hàng xuất khẩu, cần rà soát các hợp đồng, kiểm tra kỹ tình hình thanh toán nợ, kiểm soát chặt chẽ các món vay, nhằm phòng tránh rủi ro một cách tốt nhất.
Và đương nhiên, sự cẩn trọng này cũng không thừa đối với các tập đoàn, tổng công ty trong nước trong các hợp đồng, giao dịch lớn với ngân hàng hay đối tác nước ngoài.
* Kết thúc 8 tháng đầu 2008, so với cùng kỳ năm trước, doanh số hàng xuất khẩu Việt Nam đạt 43,3 tỷ USD, tăng 39,1%. Không tính dầu thô và than đá, một số mặt hàng xuất khẩu đạt mức trên một tỷ USD như: dệt may đạt 6 tỷ USD, tăng 20%; giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 18,5%; hàng thủy sản đạt 2,9 tỷ USD, tăng 20,8%; gạo đạt 3,4 triệu tấn, tương đương 2,2 tỷ USD, giảm 4,8% về lượng và tăng 96,1% về kim ngạch; sản phẩm gỗ đạt 1,8 tỷ USD, tăng 20,5%; cà phê đạt 1,5 tỷ USD, tăng 9,2%; cao su đạt 1 tỷ USD, tăng 30,5%.
Ngày 8/9, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) và Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đã liên kết ra mắt và đưa vào hoạt động sàn giao dịch vàng tại Tp.HCM.
Đến thời điểm này, tại Tp.HCM đang có 4 sàn giao dịch vàng hoạt động. Tại sàn vàng của SJC và Eximbank, nhà đầu tư có thể kinh doanh gấp 14 lần vốn tự có. Mức kí quỹ là 7% giá trị giao dịch.
Hoạt động mua bán thực hiện bằng các lệnh khớp lệnh liên tục. Biên độ dao động giá ±5%, số lượng giao dịch tối thiểu lệnh đặt là 50 lượng vàng.
Phí giao dịch được tính 1.000 đồng/lượng vàng khớp lệnh với các nhà đầu tư là thành viên, 2.000 đồng/lượng cho nhà đầu tư cá nhân, tổ chức khác.
Hạn mức cho nhà đầu tư thành viên vay tối đa tại sàn vàng là 200 tỷ đồng, 30 tỷ đồng cho nhà đầu tư cá nhân; lãi suất vay 20%/năm áp dụng cho tiền VND và 8%/năm đối với vàng SJC, mức lãi tiền gửi VND là 4%/năm.
Ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietBank nói về hệ thống an ninh bằng định vị vệ tinh (GPS) trong hoạt động kinh doanh.
Thưa ông, trong khi nhiều ngân hàng lớn khác chưa triển khai GPS, phải chăng, vì “sinh sau đẻ muộn” nên LienVietBank muốn đánh bóng thương hiệu?
GPS (Global Positioning System) là hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu, thường gọi tắt là định vị vệ tinh. Hiện việc triển khai GPS trong hoạt động kinh doanh ngân hàng còn rất mới ở Việt Nam. Sở dĩ LienVietBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam áp dụng GPS trong quản lý kinh doanh bởi vì chúng tôi đang đi theo tôn chỉ hoạt động đã vạch ra của mình “ngân hàng điện tử - hướng tới khách hàng” và “an toàn trước, hiệu quả sau”.
Đặc điểm kỹ thuật của GPS như thế nào và được triển khai ở những hoạt động cụ thể gì? Khách hàng và ngân hàng được lợi gì khi triển khai dịch vụ này?
GPS sẽ triển khai ở hoạt động an ninh quản lý tài sản của ngân hàng và khách hàng.
HSBC và Tổng công ty Bưu chính Việt Nam sẽ hợp tác liên kết hệ thống, cung cấp dịch vụ ngân hàng. Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Ngân hàng HSBC với Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPOST) đã được ký sáng nay (26/8).
Theo biên bản ghi nhớ này, HSBC và VNPOST sẽ hợp tác liên kết dịch vụ, kết nối hệ thống, cung cấp dịch vụ ngân hàng. Thông qua việc hợp tác, VNPOST, với mạng lưới toàn quốc các công ty con và các bưu cục, sẽ cung cấp dịch vụ thu hộ và chi hộ bằng Việt Nam đồng cho các khách hàng doanh nghiệp hoặc cá nhân có tài khoản tại HSBC.
Thông qua đầu mối VNPOST, số lượng điểm giao dịch của HSBC tại Việt Nam được nâng lên hơn 20.000 điểm.
Mặt khác, HSBC có mạng lưới trên 9.500 chi nhánh tại 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cùng VNPOST thúc đẩy cơ hội hợp tác trong dịch vụ chuyển ngoại tệ, kiều hối từ các nước vào Việt Nam và chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài.
Nội dung bản ghi nhớ nói trên còn bao gồm thỏa thuận bán chéo các sản phẩm và dịch vụ, hợp tác marketing, trao đổi thông tin và việc HSBC hỗ trợ công tác đào tạo cán bộ cho VNPOST ở trong và ngoài nước.
HSBC cũng sẽ cung cấp cho VNPOST giải pháp tổng thể về quản lý tiền tệ, bao gồm quản lý tính thanh khoản, thu, chi và quản lý dòng tiền...
Ngày 18/8, Ngân hàng HSBC thông báo đã lắp đặt xong 108 máy ATM tại Việt Nam.
Với con số trên, HSBC trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên lắp đặt trên 100 máy ATM tại Việt Nam, có tốc độ tăng trưởng 415% kể từ cuối năm 2007 (khi ngân hàng này chỉ có 26 máy ATM).
Theo HSBC, máy ATM là một trong những dịch vụ tiên phong của ngân hàng này; lần đầu tiên đưa máy ATM và thẻ ATM vào hoạt động tại thị trường Việt Nam vào năm 1995.
Số lượng ATM lắp đặt nói trên nằm trong chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của HSBC. Dự kiến trong vòng 3 năm tới, HSBC sẽ đầu tư khoảng 28,55 triệu USD vào việc phát triển các tiện ích của dịch vụ ngân hàng tự động tại Việt Nam, bao gồm máy ATM và máy ATM đa chức năng cho phép khách hàng gửi tiền trực tiếp tại máy.<
HSBC trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên được nắm 20% cổ phần tại một ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngày 7/8, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có văn bản số 7148/NHNN-CNH về việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) bán thêm cổ phần cho HSBC. Trước đó, Techcombank đã có văn bản đề nghị được xem xét bán thêm cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược là HSBC. Ngày 30/7, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có công văn số 4949/VPCP-KTTH đồng ý việc Techcombank bán thêm cổ phần cho HSBC, để nhà đầu tư nước ngoài này được sở hữu tỷ lệ 20% vốn điều lệ của Techcombank. Khi triển khai kế hoạch này, HSBC và Techcombank có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và Điều lệ của Techcombank về việc mua, bán cổ phần.
Hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro, Capital Adequacy Ratio – CAR) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính của các ngân hàng. Chỉ tiêu này được dùng để xác định khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành.
Đây cũng là một trong 5 tiêu chuẩn quan trong nhất mà các ngân hàng thương mại phải đáp ứng để đảm bảo an toàn hoạt động, theo định hướng quản lý rủi ro của Ngân hàng Nhà nước theo từng thời kỳ (4 tiêu chuẩn còn lại bao gồm yêu cầu vốn tự có, tỷ lệ khả năng chi trả (thanh khoản), giới hạn cho vay và bảo lãnh thương mại, giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn)
Một số ngân hàng thương mại vừa lên tiếng giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện để các nhu cầu tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn. Còn trên thực tế, tăng trưởng tín dụng của hệ thống đang có dấu hiệu chậm lại.
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tháng 7/2008, dư nợ cho vay nền kinh tế ước tăng 0,7% so với tháng trước; trong đó, dư nợ cho vay bằng VND ước tăng 0,59% và dư nợ cho vay bằng ngoại tệ ước tăng 1,07%. So với cuối năm 2007, dư nợ cho vay nền kinh tế đến thời điểm trên ước tăng 18,36%.
So với mục tiêu tối đa 30% trong năm nay mà Ngân hàng Nhà nước định hướng, mức tăng 18,36% nói trên đang đúng nhịp (bình quân 2,6% so với 2,5%/tháng). Nhưng chỉ riêng tháng 1, mức tăng đã chiếm tới 6,3%; mức tăng các tháng còn lại đều ở mức thấp.
Theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), từ ngày 1/4/2007 các ngân hàng 100% vốn ngoài được phép thành lập chi nhánh tại Việt Nam. Đó là điều kiện “cần”. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, điều kiện “đủ” hầu như cũng đã chín muồi: với dân số 85 triệu nhưng mới chỉ có khoảng 10% người dân mở tài khoản tại ngân hàng và hơn 2/3 là dân số trẻ, Việt Nam đang là mục tiêu trong trung hạn của các ngân hàng ngoại. Do vậy, tuy âm thầm nhưng cũng rất quyết liệt, các định chế tài chính ngoại đang tăng cường thâm nhập thị trường tài chính-ngân hàng Việt Nam. (Xem thêm ANZ vẫn xem Việt Nam là thị trường trọng điểm)