Có khá nhiều ưu thế so với kênh bán hàng truyền thống, không bị giới hạn về không gian, tiếp cận được với khách hàng và đối tác trên khắp thế giới, có...
Cầm số tiền vừa nhận từ máy ATM, nhét vội vào túi, người thanh niên bước nhanh ra khỏi chỗ rút tiền và phóng thẳng về nhà ở cách đó không xa. Cánh cửa sắt...
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài...
Nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch đẩy mạnh giải ngân vào dịp cuối năm, sau tín hiệu tăng chậm của dư nợ. Trong hai tháng liên tiếp, tăng trưởng tín dụng hệ...
Nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đang lồ lộ trước mắt. Nhiều người nghĩ, Việt Nam không...
Chi phí quảng cáo là một trong những khoản cần phải cắt giảm đầu tiên khi doanh nghiệp gặp khó khăn. Việc này đã khiến nhiều công ty làm quảng cáo phải chật vật tìm cách giữ khách hàng. Khó khăn dồn dập Giám đốc một công ty quảng cáo than thở: “Bộ phim truyền hình của công ty làm đã được duyệt phát sóng, nhưng chúng tôi đang lo không bán đủ số lượng quảng cáo”. Lâu nay, tiền mua phim phát sóng của các đài truyền hình được quy đổi thành thời lượng quảng cáo cho từng tập phim. Từ đó, các hãng phim tư nhân sẽ tự tìm khách hàng để bán quảng cáo. Nhưng gần đây, do tình hình làm ăn khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm chi phí quảng cáo. Cùng lúc, có nhiều ý kiến phê phán chất lượng cùng tình trạng “bội thực” quảng cáo trong phim truyền hình, khiến nhiều tập phim bị… hụt quảng cáo. Vì thế, tuy phim vẫn được phát sóng đều đặn nhưng các hãng phim tư nhân lại đau đầu với nỗi lo thu hồi vốn. “Thời lượng quảng cáo cho từng tập phim đã được quy định sẵn, nếu thất thu quảng cáo, chúng tôi đành chịu lỗ”, ông này nói. Nỗi niềm của vị giám đốc trên cũng là hoàn cảnh chung của nhiều công ty quảng cáo khác, khi ồ ạt nhảy sang lĩnh vực làm phim truyền hình cách đây một năm. Thời điểm đó, xuất hiện nhiều mối liên kết, hợp tác làm phim truyền hình “tay ngang”, do bị hấp dẫn bởi các xu hướng “xã hội hóa phim truyền hình”, “giờ vàng cho phim Việt”… Hiện nay, việc bán quảng cáo cho phim truyền hình không còn thuận lợi, các công ty này thường phải chào mức giá thấp hơn giá quảng cáo quy định của các đài truyền hình để nhanh thu hồi vốn làm phim. Chưa kể, để giữ chân khách hàng cho các phim sau, họ còn khuyến mãi bằng cách mua lại các mục quảng cáo khác của đài truyền hình và bán cho khách hàng với giá… thấp hơn quy định.
“Chúng tôi phải xoay xở mọi cách để thu hút khách hàng, vì thời gian qua phim truyền hình đã bị “tai tiếng” là phát sóng không đúng giờ, quảng cáo chen ngang vô lối…”, đại diện một công ty quảng cáo cho biết.
Giám đốc một công ty trong lĩnh vực hoạch định và đặt chỗ trên kênh truyền thông (media planning and buying) cho biết, mấy tháng nay công ty của bà bị mất 30% doanh số quảng cáo. Bà cũng cho biết, một số khách hàng ký hợp đồng dài hạn do làm ăn khó khăn nên đề nghị tạm hoãn đăng quảng cáo, sau đó họ cắt luôn hợp đồng và chấp nhận chịu phạt. Công ty hiện cũng có một số trang quảng cáo trên báo không tìm được khách hàng, hoặc khách hàng mua không hết trang.
Ở lĩnh vực tổ chức sự kiện, nhiều hợp đồng bị hủy, các sự kiện được tổ chức trong tinh thần tiết giảm tối đa chi phí khiến doanh thu của một số công ty bị sụt giảm gần 50%.
Bà Nicole Vooijs, Giám đốc điều hành GroupM (gồm các công ty thành viên của tập đoàn truyền thông WPP: MAXUS, MediaCom, Mediaedge:cia và MindShare), cho biết trong nửa đầu năm 2008, tuy ngành công nghiệp truyền thông Việt Nam vẫn tăng trưởng 18% (theo khảo sát của TNS Media về chi phí làm quảng cáo trên truyền hình và báo in) nhưng chủ yếu do các nhãn hàng ít tên tuổi làm thương hiệu.
“Một vài khách hàng lớn của chúng tôi đang có xu hướng không tăng ngân sách quảng cáo, thay vì tăng đều đặn hàng năm như trong năm năm qua. Có thể họ sẽ giảm 1-2% ngân sách dành cho tiếp thị trong năm nay”, bà Vooijs nói.
Ông Hoàng Kim, giám đốc một công ty chuyên đặt chỗ quảng cáo, cho biết các khách hàng của công ty lúc này bỗng có nhiều “đòi hỏi” hơn, từ việc thu nhỏ kích cỡ quảng cáo trên báo in, giảm tần suất quảng cáo trên truyền hình đến thử nghiệm quảng cáo trên đài phát thanh với lý do sản phẩm của họ cần lan tỏa đến vùng sâu, vùng xa.
“Việc giảm ngân sách cho quảng cáo của khách hàng khiến kế hoạch đặt chỗ quảng cáo của chúng tôi bị xáo trộn, dẫn đến thiệt hại. Chưa kể nếu khai thác thêm quảng cáo trên sóng phát thanh, chúng tôi lại phải phân bổ nguồn lực vào một lĩnh vực mà chưa biết đầu ra có ổn định không”, ông Kim băn khoăn.
Thay đổi để thích ứng
Hiện nay tùy vào khả năng tài chính mà doanh nghiệp phải chọn các gói dịch vụ phù hợp. Theo bà Vooijs, với khách hàng là công ty trong nước vốn mỏng tiềm lực tài chính, ngân sách dành cho các chiến dịch quảng bá thương hiệu không nhiều nên phân bổ đều và căn cứ theo doanh số bán hàng.
Chẳng hạn, ở thời gian khởi động chiến dịch truyền thông, thường kéo dài 6-9 tháng đầu, công ty có thể làm sự kiện, tổ chức hội thảo, hội nghị khách hàng… để công chúng làm quen với hình ảnh, thông điệp của sản phẩm, dịch vụ mới. Sau giai đoạn này, khi đã đo lường được kết quả nhất định từ các chương trình trên, công ty mới quyết định kênh truyền thông nào hiệu quả, phù hợp với sản phẩm, dịch vụ của họ để quảng cáo dài hạn.
Trong tình hình hiện nay, các đại lý truyền thông (công ty đặt chỗ quảng cáo) cũng đang thực hiện việc giảm giá quảng cáo, tăng chiết khấu cho khách hàng. Thông thường, các đại lý sẽ đăng ký mua trước một số vị trí, thời lượng quảng cáo trên báo, truyền hình rồi phân phối lại cho khách hàng. Với giá quảng cáo được “mua sỉ”, các đại lý dễ dàng đưa ra giá mềm hơn so với mức giá khách hàng tự đi đặt quảng cáo.
“Để có thể cung cấp một mức giá rẻ hơn nữa, các đại lý sẽ tập trung bán quảng cáo cho các khách hàng lớn, nhằm mau chóng đạt doanh số cam kết trong năm với báo đài để được hưởng những chiết khấu khác, hoặc được tặng thêm những diện tích quảng cáo. Từ đó đại lý có thể giảm giá dịch vụ, tăng chiết khấu cho những khách hàng nhỏ mà vẫn không bị lỗ”, đại diện một đại lý cho biết.
Ở góc độ công ty làm phim quảng cáo, ông Sabyasachi Mishra, Giám đốc điều hành Công ty LOWE, cho biết khi kinh tế khó khăn, tổ ấm gia đình là nơi người ta thường hướng đến. Vì thế, chiến dịch quảng cáo lúc này chỉ đạt hiệu quả cao nếu tập trung vào các giá trị gia đình, chứ không phải là những hình ảnh tô đậm chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Bên cạnh đó, theo ông Mishra, do nhạy cảm trước biến động giá cả, người tiêu dùng đang có xu hướng tìm đến những hàng hóa có giá trị sử dụng lâu bền.
“Vì vậy, nếu quảng cáo chỉ nhắm vào khai thác các đặc tính cao cấp của hàng hóa, nhằm phân biệt đẳng cấp người tiêu dùng, có khi lại trở nên xa lạ với công chúng lúc này. Quảng cáo sản phẩm bây giờ nên chú trọng vào tính thực tế, độ bền, sự an toàn, hiệu quả sử dụng và giá cả hơn là hình ảnh hào nhoáng của công ty”, ông Mishra chia sẻ.
Gần đây, tại một hội thảo về xây dựng thương hiệu được tổ chức ở Tp.HCM, Giáo sư John Quelch, trường kinh doanh Harvard, cho biết việc các công ty cắt giảm ngân sách quảng cáo không có nghĩa họ giảm bớt hoạt động quảng cáo. Theo ông, họ vẫn có nhu cầu chuyển tải thông điệp về hình ảnh công ty, sản phẩm, dịch vụ… đến người tiêu dùng. Lẽ dĩ nhiên, họ cần được tư vấn những cách làm ít tốn kém hơn. Chẳng hạn, các hình thức tài trợ sản phẩm, vật dụng cho các cơ quan, đoàn thể có in tên, logo của công ty; tham gia gây quỹ từ thiện, tổ chức các hoạt động xã hội…
“Bên cạnh đó, đã có nghiên cứu cho thấy việc duy trì quảng cáo trong thời kỳ khó khăn, giữa lúc các đối thủ cạnh tranh làm ngược lại, có thể giúp gia tăng thị phần, lợi nhuận với một mức phí tổn ít hơn so với thời điểm kinh tế thuận lợi. Vì vậy, một ngân sách quảng cáo được cắt giảm hợp lý sẽ không quá chú trọng vào số tiền giảm chi. Thay vào đó, cần tính toán tần suất hiện diện thương hiệu trước công chúng nên được duy trì ở mức độ nào, quy mô và thời lượng quảng cáo được giảm bớt ra sao…”, Giáo sư John Quelch đưa ra lời khuyên.
Có khá nhiều ưu thế so với kênh bán hàng truyền thống, không bị giới hạn về không gian, tiếp cận được với khách hàng và đối tác trên khắp thế giới, có thể cung cấp dịch vụ 24/24 giờ, thương mại điện tử đang ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn.
Tuy nhiên, thách thức vẫn còn ở phía trước.
Phát triển nhanh và đa dạng
Từ đầu năm 2007, Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) đã triển khai kênh bán hàng điện tử. Tính đến tháng 8/2008, doanh thu từ kênh bán hàng này đã tăng 20% so với năm trước.
“Chúng tôi đã nghĩ đến việc phát triển một “cửa hàng online” để tiết giảm chi phí mặt bằng và thuê nhân viên cũng như khắc phục những giới hạn về không gian và thời gian của loại hình kinh doanh truyền thống”, ông Lê Vĩnh Thái, Phó giám đốc marketing PNJ, cho biết.
Trước đó, vào năm 2005, Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động đã nâng cấp trang web www.thegioididong.com thành một kênh bán hàng trong khi định hướng ban đầu chỉ là kênh thông tin, giới thiệu các mặt hàng công nghệ.
Ông Trần Nhật Linh, Giám đốc kênh bán hàng phi truyền thống của Thế Giới Di Động, cho biết số lượng đơn đặt hàng thông qua trang web đã tăng đáng kể, có khoảng 2.000-2.500 đơn hàng/tháng, đóng góp từ 1-1,5 tỉ đồng vào doanh thu hàng tháng của công ty.
“Với khoảng 500.000 lượt khách hàng truy cập vào trang web mỗi ngày, trong đó 30% là khách hàng truy cập thường xuyên, số đơn đặt hàng qua mạng của Thế Giới Di Động sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh”, ông Linh nhận định.
Theo ông Nguyễn Viết Hồng, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Truyền thông và Thương mại điện tử Thanh Long, chủ sở hữu trang thương mại điện tử www.thitruongviet.com.vn, thay vì đầu tư một trang web bán hàng riêng, doanh nghiệp có thể đăng ký một gian hàng trên chợ điện tử hay các siêu thị trực tuyến.
“Với sự đa dạng về chủng loại hàng hóa, cổng thương mại mang tính cộng đồng này sẽ thu hút nhiều khách hàng tìm đến mua sắm do tính tiện lợi và giá cả cạnh tranh. Lượng mua bán qua mạng của trang web thitruongviet trong nửa đầu năm 2008 tăng 30% so với cùng kỳ năm 2007, đạt khoảng 200 đơn hàng mỗi ngày”, ông Hồng nói.
Bên cạnh sự đa dạng của người bán, khách hàng tham gia đặt hàng thông qua các trang web cũng được mở rộng. Ngoài những người trẻ, nhân viên văn phòng không có thời gian mua sắm, nhiều công ty thương mại điện tử đã chú trọng đến một lượng lớn khách hàng dự án.
Bà Lê Thị Duy Linh, Giám đốc phát triển kinh doanh của Golmart, cho biết: “Trong hai năm gần đây, tình hình kinh doanh của www.golmart.vn đã cải thiện đáng kể nhờ số lượng lớn các công ty có nhu cầu thực hiện chương trình khuyến mãi, mua quà tặng cho nhân viên, đối tác… Doanh thu mỗi năm từ khách hàng dự án khoảng 20 tỉ đồng trong khi giao dịch của khách hàng cá nhân chỉ mang về khoảng 600-700 triệu đồng/năm”.
Ngoài các hình thức thanh toán truyền thống (tiền mặt, chuyển khoản qua ngân hàng, chuyển tiền qua bưu điện…), phần lớn các trang thương mại điện tử hiện nay đều đã chấp nhận phương tiện thanh toán bằng thẻ tín dụng hay thẻ ATM.
Ông Nguyễn Viết Hồng cho biết hiện Công ty Thanh Long đã liên kết với Ngân hàng Đông Á thực hiện dịch vụ thanh toán trực tuyến bằng thẻ đa năng Đông Á thông qua hình thức Internet Banking.
Sắp tới, trang web thitruongviet sẽ mở rộng thanh toán qua hệ thống thẻ ATM liên kết của các ngân hàng trong nước, thay vì chỉ là thẻ Visa hay MasterCard như trước đây. Trong năm 2007, số lượng thẻ ATM ở nước ta đã đạt 8,4 triệu thẻ và có mức độ tăng trưởng 150%/năm.
Nhiều thách thức
Thông tin giữa doanh nghiệp thương mại điện tử và công ty dịch vụ thanh toán trực tuyến được đảm bảo an toàn bằng chữ ký số và xác thực địa chỉ mạng.
Tuy vậy, thanh toán trong thương mại điện tử Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề về chi phí và an toàn trong giao dịch.
“Hiện nay, chúng tôi vẫn chưa mạnh dạn áp dụng các hình thức thanh toán trực tuyến, một phần vì phí giao dịch quá cao trong khi người mua chưa chấp nhận chi trả khoản phí này”, ông Linh, Công ty Thế Giới Di Động, cho biết.
Khi thanh toán bằng thẻ tín dụng, chi phí cho mỗi giao dịch khoảng 3-4% giá trị đơn hàng. Thêm nữa, số người sử dụng thẻ tín dụng ở nước ta chưa nhiều trong khi nhiều tính năng của thẻ ATM vẫn chưa được khai thác đúng mức.
Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử, Bộ Công Thương, tính đến năm 2007, chỉ có 14,3% doanh nghiệp thương mại điện tử áp dụng hình thức thanh toán bằng thẻ tín dụng, trong khi chủ yếu vẫn là hình thức chuyển khoản qua ngân hàng, tiền mặt khi giao hàng, chuyển tiền qua bưu điện.
Thêm nữa, trong thời gian qua, tình trạng hacker tấn công, ăn cắp thông tin thẻ tín dụng để mua hàng trực tuyến đã trở nên phố biến. “Để đảm bảo an toàn cho thanh toán bằng thẻ tín dụng, chúng tôi đành yêu cầu khách hàng thực hiện một số xác nhận mang tính thủ công như fax hai mặt thẻ, chữ ký và passport. Vì thế nhiều khách hàng lại chuyển sang thanh toán bằng những hình thức truyền thống”, bà Linh, Công ty Golmart, nói.
Trên lý thuyết, do tiết giảm được khá nhiều chi phí mặt bằng, nhân sự, giá hàng hóa được bày bán trên mạng phải thấp hơn 20-30% so kênh truyền thống. Thế nhưng thực tế, giá hàng hóa bán ở các trang thương mại điện tử Việt Nam đôi khi còn cao hơn sau khi cộng các chi phí phát sinh, nhất là chi phí vận chuyển.
“Đối với những hàng hóa có giá trị cao như nữ trang, nếu giao hàng thông qua các công ty giao nhận, khách hàng sẽ phải trả mức phí bảo hiểm là 2%/tổng đơn hàng”, ông Thái, Công ty PNJ, cho biết.
Ông Ho-Ming Huang, cựu Chủ tịch Hiệp hội An ninh mua sắm trực tuyến (Secure Online Shopping Association - SOSA) Đài Loan, phân tích có ba rào cản lớn nhất mà thương mại điện tử ở các thị trường mới nổi phải đối mặt. Ngoài hai rào cản mà nhiều doanh nghiệp đã nhận thấy là phương tiện thanh toán và hệ thống giao nhận, còn có một rào cản khá lớn là luồng thông tin.
“Vì khách hàng không được xem kỹ mọi chi tiết, dùng thử nên thông tin về sản phầm trên trang web phải được trình bày rõ ràng, đầy đủ, và phải hấp dẫn. Những tiêu chí về chính sách trả lời đơn đặt hàng, hoàn trả sản phẩm, bảo hành, giá bán, khuyến mãi… phải được cập nhật liên tục. Thêm nữa, sản phẩm bày bán cần được trình bày khoa học và tiện lợi, cung cấp cho khách nhiều sự lựa chọn về giá, về tính năng sản phẩm. Sau khi quyết định mua món hàng, người tiêu dùng còn được giới thiệu các phụ kiện đi kèm, vừa kích cầu, vừa tạo cảm giác thoải mái cho người mua. Trang web phải tỏ ra là một nhân viên bán hàng am hiểu sản phẩm và thấu hiểu tâm lý người tiêu dùng”, ông Huang chia sẻ.
Ông Lê Hải Bình, Giám đốc Công ty Mắt Bão, cho biết thêm: “Khi xây dựng một trang web thương mại điện tử, doanh nghiệp cần lưu ý đến việc lựa chọn một không gian lưu trữ (hosting) an toàn và phù hợp với tốc độ phát triển trong tương lai. Tránh trường hợp phải tạm ngưng nhiều lần để nâng cấp hosting, vừa tăng chi phí, dễ đánh mất thông tin khách hàng hay gây lãng phí nếu thuê một hosting quá lớn”.
Các doanh nghiệp hoạt động thương mại điện tử đều có chung nhận định việc khai thông các rào cản về kỹ thuật là việc có thể làm được trong khi thay đổi nhận thức, thói quen và tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng mới là việc khó khăn và hiện là rào cản lớn nhất.
“Trong 100 đơn đặt hàng trên trang web thitruongviet mỗi ngày, có đến 70 đơn hàng là đặt thử”, ông Hồng cho biết. Thegioididong.com cũng rơi vào tình cảnh tương tự, trong tổng số 2.000-2.500 đơn đặt hàng mỗi tháng, chỉ khoảng 20-25% là đơn hàng thật.
Ông Ho-Ming Huang chia sẻ kinh nghiệm rằng, SOSA đã triển khai việc dán tem bảo đảm cho các trang web thương mại điện tử uy tín để giảm thiểu rủi ro và mang lại sự an tâm cho người mua. Chỉ những trang web nào thỏa mãn những điều kiện cần thiết về bảo vệ dữ liệu cá nhân, các nguyên tắc về kinh doanh mới được cấp logo và sẽ kiểm tra lại sau mỗi năm.
Người mua chỉ cần click vào logo này sẽ được dẫn đến mục xác nhận đảm bảo của trang web trên SOSA và đường dẫn đến những thông tin cần thiết về công ty, về sản phẩm. Thêm nữa, tổ chức này sẽ làm trung gian hòa giải cho những tranh chấp phát sinh giữa khách hàng và người bán hàng trong quá trình giao dịch.
* Theo mạng Visa, Việt Nam là nước đứng thứ ba về tốc độ phát triển thương mại điện tử trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Với cơ cấu dân số trẻ (60% dưới 30 tuổi), năng động trong tiêu dùng và nhạy bén trong ứng dụng công nghệ mới, Việt Nam có khoảng 20 triệu người (chiếm 22,7% dân số) sử dụng Internet thường xuyên. Tính đến năm 2007, đã có 92% doanh nghiệp có kết nối Internet, trong đó 82% dùng dịch vụ ADSL.
Bộ Tài chính Mỹ và Cục Dự trữ Liên bang nước này (FED) vừa công bố một kế hoạch lớn nhằm cứu nguy cho thị trường tài chính nước này.
Đây được xem là nỗ lực giải quyết khủng hoảng tài chính toàn diện nhất được các nhà chức trách Mỹ đưa ra từ khi cuộc khủng hoảng này bắt đầu.
Theo kế hoạch nói trên, Chính phủ Mỹ sẽ mua vào các tài sản có tính thanh khoản yếu kém, nói cách khác là các khoản nợ xấu, từ các tổ chức tài chính để giải tỏa gánh nặng cho họ.
Một nguồn tin của CNN cho biết, Bộ Tài chính Mỹ đang cân nhắc ý tưởng thành lập một cơ quan để mua lại các tài sản như trên của các tổ chức tài chính trong thời gian nhiều tháng.
Hãng tin CNN dẫn lời Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Henry Paulson phát biểu sau cuộc họp kéo dài tới tận buổi tối muộn theo giờ địa phương: “Nguyên nhân sâu xa của tình hình căng thẳng trên thị trường vốn chính là sự điều chỉnh của thị trường địa ốc. Do vậy, chúng tôi đang hợp tác để tìm ra một giải pháp khẩn cấp nhằm thẳng vào trọng tâm của vấn đề, đó chính là những tài sản có tính thanh khoản kém trên bảng cân đối kế toán của các tổ chức tài chính”.
Có khả năng, cơ quan mà ông Paulson đang cân nhắc thành lập sẽ tổ chức những cuộc đấu giá lớn để mua lại các loại nợ địa ốc từ các tổ chức tài chính.
Các công ty muốn “rũ bỏ” những tài sản khó bán này sẽ đấu giá để bán cho Chính phủ với mức giá thấp hơn nhiều so với giá trị của các tài sản này. Những công ty đưa ra giá rẻ nhất sẽ là những công ty bán được các tài sản xấu đó.
Sau đó, Chính phủ có thể bán lại những tài sản này ra thị trường vào những thời điểm phù hợp.
Theo công ty nghiên cứu chính sách Standford Group, một cơ quan như vậy sẽ cho phép Chính phủ tái cấp vốn người vay tiền bằng các khoản vay thuộc sở hữu của Chính phủ. Theo đó, sẽ làm giảm bớt nguy cơ vỡ nợ của người vay và cuối cùng sẽ tăng giá của loại chứng khoán địa ốc phát hành dựa trên khoản vay đó.
Hiện kế hoạch nói trên đã được báo cáo lên Thượng viện và Hạ viện Mỹ và đang chờ sự phê chuẩn của các cơ quan này.
Người phát ngôn Nancy Pelosi của Hạ viện Mỹ cho biết, các nhà làm luật Mỹ sẽ nhận được đề xuất chính thức từ Bộ Tài chính Mỹ trong vòng vài giờ tới. “Chúng tôi hy vọng có thể hành động nhanh chóng. Thời gian là vấn đề quan trọng vào lúc này”, bà Pelosi nói.
Theo phát ngôn viên của Bộ Tài chính Mỹ Brookly McLaughlin, ông Paulson, ông Bernanke và những người đứng đầu quốc hội Mỹ sẽ làm việc tới hết cuối tuần này để đi đến một kế hoạch cuối cùng.
Chủ tịch Ủy ban Dịch vụ Tài chính Hạ viện Mỹ Barney Frank cho biết, ông tin rằng, kế hoạch này sẽ được đưa vào thực hiện trong tuần tới.
Tuyên bố nói trên từ các nhà chức trách Mỹ được giới quan sát cho là bước ngoặt quan trọng mới nhất sau 6 ngày biến động mạnh mẽ trên Phố Wall vừa qua, với sự “biến mất” của Lehman Brothers và Merill Lynch, cũng như việc FED bỏ ra 85 tỷ USD để tiếp quản tập đoàn bảo hiểm AIG. Cùng với đó, các tổ chức tài chính khác trong đó có Morgan Stanley và Washington Mutual ra sức huy động vốn hoặc tìm đối tác để sáp nhập.
Tại Mỹ, đã từng có tiền lệ về việc Chính phủ Liên bang mua lại những tài sản có vấn đề từ khu vực tư nhân. Vào thập niên 1930, một tập đoàn đã được thành lập để phát hành trái phiếu nhằm tái cấp vốn các khoản vay cho người vay tiền.
Trong khủng hoảng nợ và tiết kiệm (S&L) tại Mỹ trong thập kỷ 1980, Quốc hội Mỹ cũng thành lập một cơ quan chuyên bán lại tài sản của các ngân hàng bị vỡ nợ.
Kế hoạch trên của Bộ Tài chính Mỹ và FED nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của giới quan sát.
“Đây đúng là một tin tốt lành. Sáng mai, thị trường Mỹ sẽ như bước sang một trang mới. Hy vọng, kế hoạch này sẽ đem niềm tin tới khắp các bàn giao dịch”, bà Marilyn Cohen, giám đốc công ty quản lý tài sản Envision Capital Management ở Los Angeles nhận xét.
Theo đánh giá của các thành viên nghiên cứu và soạn thảo cuốn Cập nhật Triển vọng Phát triển châu Á 2008, Việt Nam đã xử lý được “cơn bão” kinh tế của năm nay một cách hiệu quả, nhưng những khó khăn thử thách vẫn chưa qua.
“Mặc dù chúng tôi chúc mừng Chính phủ Việt Nam đã cải thiện được các con số thống kê kinh tế, song xét về giá trị tuyệt đối, lạm phát và nhập siêu vẫn còn rất cao và sẽ phải mất một thời gian nữa mới có thể bình ổn được một cách vững chắc hơn. Với triển vọng kinh tế toàn cầu còn chưa chắc chắn, Việt Nam cần phải tập trung vào việc bình ổn tình hình kinh tế”.
Các chuyên gia dự báo của ADB cũng chỉ ra rằng: Việt Nam cần phải nhận thức về sự đánh đổi giữa chỉ tiêu tăng trưởng cho năm sau và tiềm năng tăng trưởng cho các năm kế tiếp. Với một nền kinh tế trước mắt còn tồn tại rất nhiều thách thức, Việt Nam phải kiên nhẫn khi chuyển hướng chính sách sang phục hồi kinh tế.
Theo nhận định của bản báo cáo, Chính phủ Việt Nam dự kiến sẽ tiếp tục đặt ưu tiên cho công tác chống lạm phát cao hơn mục tiêu kích thích tăng trưởng, cho đến khi lạm phát giảm và kiềm chế ở mức một con số.
Tuy nhiên, bản cập nhật ADO lại cho rằng: "Đến một thời điểm nào đó sẽ phải điều chỉnh tiền lương, giá điện và giá cả các mặt hàng thiết yếu khác. Chúng ta cũng không thể loại trừ khả năng một đợt bão giá mới trên thị trường toàn cầu”, ông Konishi nói.
Do đó, theo kiến nghị của ADB, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục tăng cường hoạt động giám sát cẩn trọng đối với các ngân hàng và phải có hành động nhanh chóng để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng ngân hàng có hệ thống (trong trường hợp có ngân hàng nào lâm phải tình trạng tài chính nguy cấp).
Với những thách thức của nền kinh tế đang gặp phải, các chuyên gia của ADB đặt chỉ tiêu tăng trưởng của Việt Nam thấp hơn ở mức 6% cho năm 2009 so với tốc độ tăng trưởng được dự báo cho năm 2008 là 6,5%.
“Mức tăng trưởng 6% sẽ cho phép Việt Nam chuẩn bị tốt hơn nhằm khôi phục tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong các năm 2010 - 2011”, ông Ayumi Konishi nhấn mạnh.
Bên cạnh việc giảm dự báo tăng trưởng cho Việt Nam, Báo cáo Cập nhật Triển vọng Phát triển châu Á còn dự đoán lạm phát trong năm 2008 và 2009 theo thứ tự sẽ là 25% và 17,5% (so với mức dự báo 18,3% và 10,2% được đưa ra trong Báo cáo ADO 2008 công bố hồi tháng 4 vừa qua).
Thâm hụt tài khoản vãng lai năm 2008 được dự báo ở mức 13,5% GDP (tăng so với dự báo 10,3% GDP theo báo cáo trước đây) và năm 2009 được dự báo ở mức 7% GDP (thấp hơn so với mức dự báo 9,4% GDP).
Mặc dù có những rủi ro và thách thức như vậy trong ngắn hạn, song triển vọng kinh tế trung và dài hạn của Việt Nam theo nhìn nhận của nhóm nghiên cứu ADB là “vẫn tốt”.
Đó là: Việt Nam có đội ngũ lao động cần cù và tiềm năng tăng trưởng tốt; Nợ nước ngoài vẫn duy trì ở mức vừa phải; Luồng vốn FDI đổ vào Việt Nam đã tăng đáng kể trong vài năm gần đây và dự báo vẫn ở mức cao.
Ngày 12/9, thị trường vàng đón nhận thêm một sàn giao dịch mới đi vào hoạt động. Đây là Sàn giao dịch vàng Việt Nam, trực thuộc Công ty Cổ phần Kinh doanh và Đầu tư vàng Việt Nam (Vietnam Gold Business – VGB). Theo giới thiệu của VGB, “đây là sàn giao dịch vàng và hàng hóa chuyên nghiệp đầu tiên tại Việt Nam”, với 3 sàn giao dịch tại 3 trung tâm là Hà Nội, Tp.HCM và Long Xuyên.
*VGB được thành lập trên cơ sở góp vốn của 3 nhóm cổ đông chính, là nhóm có chuyên môn về công nghệ thông tin và quản trị; ngân hàng (Techcombank với 10%); các công ty kinh doanh vàng như Công ty Cổ phần Vàng bạc đá quý SJC Hà Nội, Công ty Cổ phần Vàng bạc đá quý và Đầu tư Thương mại Doji, Công ty TNHH Kim Linh, Công ty Kim Ngọc Phú, Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vàng Ngọc Anh... Tại sàn này nhà đầu tư có thể mở hai hệ thống tài khoản, tài khoản ký quỹ để đầu tư và tài khoản không kỳ hạn. Hai tài khoản này được liên thông với nhau. Khi hoạt động đầu tư có lãi, tiền lãi được chuyển sang tài khoản không kỳ hạn để hưởng lãi suất. Khi tỷ lệ ký quỹ bị giảm sút do giá vàng biến động, tiền được chuyển từ tài khoản không kỳ hạn sang tài khoản ký quỹ để tạo lập mức ký quỹ cần thiết, tránh tình trạng sàn vàng phải bán vàng trên tài khoản, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư.
Ngoài hình thức giao dịch giao ngay (spots), sàn vàng của VGB còn triển khai các hình thức giao dịch khác, như giao dịch kỳ hạn (forwards), tương lai (futures) và quyền chọn (options). Theo VGB, ngoài đáp ứng nhu cầu đầu tư, những hình thức này thỏa mãn nhu cầu bảo hiểm rủi ro (hedging) cho những khách hàng có nhu cầu mua/bán vàng vật chất trong tương lai.
Cùng với tổ chức giao dịch, sàn vàng VGB cung cấp thêm những thông tin về kinh tế và thị trường vàng trong và ngoài nước; tổ chức tư vấn và hỗ trợ tín dụng và vàng vật chất từ sự hợp tác với các ngân hàng thương mại.
Ông Trần Thanh Hải, Tổng giám đốc VGB, cho biết, với công nghệ hiện đại, thông qua mạng lưới của công đông sáng lập như Ngân hàng Kỹ thương Techcombank, sàn giao dịch này sẽ nhanh chóng phát triển hệ thống đại lý rộng khắp trên cả nước, ngoài 3 trung tâm nói trên; thậm chí sẽ lập các đầu nối giao dịch ngay tại nhà cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp có uy tín.
Tại sàn vàng của VGB, các lệnh mua và bán được truyền trực tiếp lên sàn trung tâm để khớp lệnh, theo nguyên tắc ưu tiên về giá, thời gian và khối lượng. Đi cùng với cơ chế trên, VGB khẳng định “giá cả và khối lượng giao dịch trên sàn hoàn toàn do khách hàng quyết định, đảm bảo sự minh bạch hoàn toàn”.
Trước mắt sàn vàng của VGB mở cửa sàn giao dịch 3 phiên khớp lệnh liên tục 8h – 11h và từ 13h – 16h30 và 17h - 19h, thứ Hai đến thứ Bảy hàng tuần; trong thời gian ngắn tới sẽ mở thêm phiên khớp lệnh định kỳ 11h - 13h. Sàn chỉ giao dịch vàng SJC 99,99, với mức phí giao dịch 2.000 đồng/lượng. Khách hàng có thể nộp/rút tiền tại các điểm giao dịch của Techcombank.
Sáng nay (10/9), Ngân hàng thế giới (WB) công bố kết quả xếp hạng môi trường kinh doanh của 181 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới năm 2009, trong đó Việt Nam xếp thứ 92, tụt 5 bậc so với năm 2008.
Kết quả xếp hạng năm 2008 theo điều chỉnh của WB, Việt Nam đứng ở vị trí 87/181 quốc gia, vùng lãnh thổ và tụt xuống đứng thứ 92/181 quốc gia, vùng lãnh thổ năm 2009.
Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore dẫn đầu bảng xếp hạng, Thái Lan xếp thứ 13, tăng 6 hạng so với năm 2008, Malaysia xếp thứ 20, tăng 5 hạng so với năm 2008, Brunei xếp thứ 88, tụt 5 hạng so với năm 2008. Việt Nam đứng thứ 5 trong khu vực về môi trường kinh doanh năm 2009.
10 tiêu chí được WB đưa ra đánh giá gồm: Thành lập một doanh nghiêp; Giải quyết vấn đề giấy phép xây dựng; Tuyển dụng và sa thải lao động; Đăng ký tài sản; Vay vốn tín dụng; Bảo vệ nhà đầu tư; Nộp thuế; Thương mại quốc tế; Thực thi hợp đồng và Giải thể doanh nghiệp.
Trong 10 tiêu chí trên, tiêu chí vốn vay tín dụng của Việt Nam được đánh giá tích cực nhất với kết quả xếp hạng ở vị trí 43, trên vị trí 59 của Trung Quốc, vị trí 68 của Thái lan, vị trí 109 của Indonesia…
Lý giải cho nguyên nhân tiêu chí vay vốn tín dụng của Việt Nam tăng ấn tượng, WB cho rằng, Việt Nam đã áp dụng đăng ký thông tin tín dụng công giúp lưu trữ các hồ sơ tín dụng lâu hơn, và giúp cung cấp cho các tổ chức tín dụng có thêm các dữ liệu về lịch sử tín dụng và khả năng trả nợ của các khách hàng tiềm năng.
Phân tích việc Việt Nam bị tụt hạng, chuyên gia kinh tế cao cấp, bà Phạm Chi Lan cho rằng, những cải cách của Việt Nam vẫn được thực thi và có không ít cải cách tích cực được đưa ra, tuy nhiên do các nước khác đã cải cách mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn chúng ta.
Được biết, môi trường kinh doanh 2009 là ấn bản thứ 6 trong loạt các báo cáo hàng năm điều tra của WB về các quy định nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Môi trường kinh doanh thể hiện các chỉ số định lượng về luật lệ kinh doanh và bảo vệ quyền sở hữu tài sản có thể so sánh được giữa 181 nền kinh tế.
Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2009 của WB chỉ đánh giá mức độ cải cách trong các văn bản pháp luật liên quan đến mỗi lĩnh vực chứ không phải hiện trạng của lĩnh vực đó.
Bảng xếp hạng môi trường kinh doanh 10 quốc gia, vùng lãnh thổ dẫn đầu và vị trí một số nước trong khu vực Đông Nam Á năm 2009
Thứ tự
Quốc gia, vùng lãnh thổ
Vị trí năm 2008
Vị trí năm 2009
1
Singapore
1
1
2
New Zealand
2
2
3
Mỹ
3
3
4
Hồng Kông,Trung Quốc
4
4
5
Đan Mạch
5
5
6
Anh
6
6
7
Ireland
7
7
8
Canada
8
8
9
Úc
10
9
10
Na Uy
9
10
...
11
Thái Lan
19
13
12
Malaysia
25
20
13
Brunei
83
88
14
Việt Nam
87
92
Nguồn: WB (Bảng xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2009, WB đã bổ sung thêm 3 nền kinh tế (từ 178 lên 181) - Trên bảng là số liệu đã được điều chỉnh)
Một năm ruỡi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chưa đủ dài để đánh giá và nhìn nhận đầy đủ tác động của hội nhập đối với nền kinh tế Việt Nam. Tác động của hội nhập trong nhiều nội dung còn mang định tính. Điều đó khiến có người cho rằng những bất ổn vĩ mô hiện nay là do Việt Nam hội nhập và tham gia vào WTO. Vậy đâu là câu trả lời đúng, tác động của hội nhập đến bất ổn vĩ mô đến mức nào và thể hiện ở đâu? Một báo cáo nghiên cứu về tác động của hội nhập đối với nền kinh tế sau một năm rưỡi Việt Nam gia nhập WTO của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) vừa công bố cho rằng về cơ bản, hội nhập và gia nhập WTO đã đem lại những kết quả như kỳ vọng như niềm tin, xuất khẩu, FDI, phân bổ nguồn lực... Tuy nhiên, sự biến động của các đại lượng đó có thể khác so với dự báo do tác động phức hợp của các nhân tố bên ngoài và trong nền kinh tế. Chúng tôi xin giới thiệu những ý kiến đóng góp của các chuyên gia xung quanh việc đánh giá tác động trực tiếp và gián tiếp của việc gia nhập WTO, đặc biệt là những nhìn nhận gắn với thực tiễn đang diễn ra hiện nay của Việt Nam. [Bài báo của VNEconomy]
Chính phủ nên có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong đợt tăng giá xăng này.Đó là khuyến nghị của chuyên gia kinh tế cao cấp - TS. Lê Đăng Doanh, khi ông bình luận về đợt tăng giá xăng dầu vừa qua. Ông Doanh nói: - Không chỉ cá nhân tôi mà có khá nhiều chuyên gia kinh tế khác cũng khá bất ngờ về mức tăng giá tới 30% đối với xăng dầu. Đây là một mức tăng cao so với khả năng chi trả và mặt bằng thu nhập của đại bộ phận người dân hiện nay.
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo năm nay tổng sản lượng quốc nội (GDP) của Việt Nam sẽ tăng trưởng chậm lại còn 6,5%, nhưng năm tới sẽ tăng lên 6,8% so với tốc độ 8,5% của năm ngoái và 7,3%/năm trong thập kỷ trước. Ngân hàng này cũng dự báo lạm phát năm 2008 của Việt Nam sẽ tăng lên 19,4%, sau đó sẽ hạ xuống 10,2% vào năm tới so với 8,3% trong năm 2007. Trong báo cáo "Giám sát Kinh tế châu Á" được công bố định kỳ 6 tháng một lần, ADB lưu ý Việt Nam cần phải hành động dứt khoát để tránh cuộc suy thoái kinh tế như đã từng xảy ra ở Thái Lan, nơi khởi nguồn cho cuộc khủng hoảng tài chính châu Á những năm 1997-1998.
Thị trường nội dung số Việt Nam đang được xem là mảnh đất màu mỡ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp chỉ mới tập trung khai thác những lĩnh vực dễ làm như nội dung cho mạng di động, trò chơi điện tử... Còn những lĩnh vực khác khó hơn như dịch vụ giải trí cao cấp với mạng 3G, y tế điện tử... vẫn còn ở dạng tiềm năng. Theo biểu đồ doanh thu mà Vụ Công nghệ thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) cung cấp, thị trường nội dung số đang tăng trưởng mạnh, năm sau gấp đôi năm trước. Nếu năm 2005, doanh thu của ngành kinh tế này chỉ khoảng 50 triệu USD thì đến năm 2006 đã vượt qua con số 100 triệu USD. Năm 2007 là 182 triệu USD.
Yahoo Việt Nam và Intel sẽ hợp tác hỗ trợ các điểm truy cập Internet trong chương trình Yahoo! Ưu việt.
Theo nội dung hợp tác, được ký kết ngày 10/7 vừa qua tại Tp.HCM, các điểm truy cập Internet công cộng tại Việt Nam - thường được gọi bằng cái tên thông dụng “quán cà phê Internet” - nếu tham gia vào chương trình kết hợp giữa Yahoo Việt Nam và Intel sẽ được tạo một danh mục kinh doanh trên website của chương trình điểm Internet mang tên Yahoo! Ưu việt sắp được giới thiệu.