Có khá nhiều ưu thế so với kênh bán hàng truyền thống, không bị giới hạn về không gian, tiếp cận được với khách hàng và đối tác trên khắp thế giới, có...
Cầm số tiền vừa nhận từ máy ATM, nhét vội vào túi, người thanh niên bước nhanh ra khỏi chỗ rút tiền và phóng thẳng về nhà ở cách đó không xa. Cánh cửa sắt...
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài...
Nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch đẩy mạnh giải ngân vào dịp cuối năm, sau tín hiệu tăng chậm của dư nợ. Trong hai tháng liên tiếp, tăng trưởng tín dụng hệ...
Nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đang lồ lộ trước mắt. Nhiều người nghĩ, Việt Nam không...
Ông Alex Thursby, Giám đốc điều hành khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Ngân hàng ANZ nói về chiến lược của ANZ tại Việt Nam. Ông đánh giá thế nào về cơ hội đầu tư tại Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đang có nhiều biến động như hiện nay? Mặc dù hiện tại nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động, tuy nhiên ANZ vẫn hoàn toàn tin tưởng vào cơ hội đầu tư tại Việt Nam trong dài hạn. Chúng tôi cho rằng tốc độ tăng trưởng trong năm 2008 sẽ chậm lại một chút để Chính phủ Việt Nam có thể kiềm chế lạm phát một cách nhanh chóng. Một quốc gia với dân số hơn 86 triệu người thực sự có nhu cầu rất lớn về các sản phẩm ngân hàng. Hiện nay mới chỉ có 10% dân số Việt Nam có tài khoản ngân hàng, tỷ lệ này vào khoảng 35% tại các thành phố lớn như Hà Nội và Tp.HCM. Một lý do khác để lạc quan là vai trò và những cam kết của Chính phủ Việt Nam. Từ năm 2000, Chính phủ đã đẩy mạnh tự do hóa nền kinh tế. Việt Nam hiện vẫn đạt mức tăng trưởng 7,5%/năm so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đứng sau Trung Quốc về tăng trưởng kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đang tăng mạnh. Đâu là những lý do khiến ANZ quyết định tổ chức chuyến Tham quan thị trường 4 quốc gia Đông Nam Á là Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Campuchia cho các nhà phân tích tài chính và đại diện các quỹ tín dụng lớn nhất của Australia, thưa ông?
ANZ đã lựa chọn những quốc gia trên vì cả những yếu tố bên trong và bên ngoài. Tại những thị trường này ANZ là một trong số những ngân hàng quốc tế hàng đầu với những thế mạnh nhất định. 4 quốc gia trên có những lợi thế nhất định so với các quốc gia trong khu vực bởi rất nhiều lý do.
Cụ thể, với Việt Nam, hiện vẫn là một nước nghèo nhưng lại có tốc độ phát triển rất nhanh; một thị trường có dân số tới 86 triệu và đang rất cần đầu tư trong các lĩnh vực đặc biệt là ngân hàng và cơ sở hạ tầng.
Những lợi thế của Việt Nam bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP cao, là thành viên của WTO, có được sự hỗ trợ từ các tổ chức viện trợ chính thức, Chính phủ Việt Nam luôn sẵn sang đổi mới và ngày càng có thêm nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Một số thách thức của Việt Nam gồm có các khoản nợ của Chính phủ, chính sách tài chính tiền tệ thì vẫn còn đang được phát triển, cần có những cải tổ trong ngành ngân hàng một cách kịp thời và thu nhập bình quân đầu người còn tương đối thấp.
Và trên tất cả, lạm phát đang là một nguy cơ trong ngắn hạn và trung hạn. Khi cân bằng những lợi thế cũng như những thách thức trên, Việt Nam vẫn là một trong những thị trường trọng điểm của ANZ trong dài hạn.
Chiến lược đầu tư ngắn hạn và dài hạn của ANZ tại thị trường Việt Nam là gì, thưa ông?
ANZ đề cao mục tiêu phát triển lâu dài tại Việt Nam, có nghĩa là chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư thêm nhiều máy ATM hơn, nhiều phòng giao dịch, nhiều sản phẩm và dịch vụ hơn nữa khi được chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên các lĩnh vực dịch vụ ngân hàng bán lẻ và dịch vụ ngân hàng dành cho doanh nghiệp.
Trong ngắn hạn, chúng tôi tập trung vào phát triển bộ phận hỗ trợ và phục vụ khách hàng để khách hàng cảm nhận được chất lượng dịch vụ khách hàng khi giao dịch với ANZ.
Tiếp theo, chúng tôi cơ cấu lại chiến lược các sản phẩm tiết kiệm và tín dụng theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời đảm bảo rằng khách hàng sẽ nhận được những giá trị tốt nhất mà họ mong đợi khi giao dịch với ANZ.
Nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch đẩy mạnh giải ngân vào dịp cuối năm, sau tín hiệu tăng chậm của dư nợ.
Trong hai tháng liên tiếp, tăng trưởng tín dụng hệ thống ngân hàng rơi vào “vùng đáy” kể từ đầu năm. Cụ thể, trong tháng 7 và 8, tỷ lệ tương ứng chỉ là 0,7% và 0,79%.
“Vùng đáy” đó lại đặt trong bối cảnh khó khăn thanh khoản đã giảm bớt, nhiều ngân hàng cùng lên tiếng tăng cường giải ngân, giảm lãi suất hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu… Từ đây có thể thấy hoạt động cho vay của các ngân hàng đang gặp khó khăn.
Khó khăn đó trước hết có từ lãi suất cho vay quá cao, hạn chế nhiều nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và vay tiêu dùng. Kế đến là những mảng tín dụng vốn hấp dẫn và chiếm tỷ trọng lớn trước đây là cho vay đầu tư chứng khoán, bất động sản đã và đang bị thu hẹp.
Trong khi đó, nguồn thu chính của các ngân hàng thương mại hiện vẫn là từ tín dụng (chiếm từ 70% - 90%). Với tốc độ tăng trưởng liên tục ở mức thấp trong hai tháng nói trên, mục tiêu lợi nhuận năm nay của nhiều thành viên đang đứng trước trở ngại nếu không có chuyển biến trong thời gian tới.
Theo đó, tăng cường giải ngân đang là một hướng lựa chọn. Và với mức tăng trên dưới 18% so với cuối năm 2007, các ngân hàng vẫn còn một dư địa khá lớn theo hạn mức 30% năm nay để đẩy mạnh cho vay trong thời gian còn lại của năm.
Từ tháng 9 này, một loạt ngân hàng thương mại tuyên bố sẽ dành hàng nghìn tỷ đồng để cho vay, tập trung ở nhóm khách hàng truyền thống và khối doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu…
Tại Ngân hàng Á châu (ACB), kế hoạch đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng những tháng cuối năm đã được thông qua, bắt đầu từ tháng 9 này. Đó là kế hoạch cung 5.000 tỷ đồng cho đối tượng là các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể và các cá nhân.
Tại Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), đó là kế hoạch tăng thêm 3.000 tỷ đồng cho chương trình tài trợ xuất khẩu từ cuối tháng 9 này, sau khi đã giải ngân 2.000 tỷ đồng trong hai tháng trước đó (riêng tài trợ xuất khẩu). Đi cùng với tăng cường giải ngân, Eximbank thực hiện giảm lãi suất USD để kích thích và hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn.
Tại Ngân hàng Ngoài quốc doanh (VPBank), theo Tổng giám đốc Lê Đắc Sơn, một nguồn tín dụng khoảng 2.000 tỷ đồng đang được xem xét để hỗ trợ cho những nhu cầu mua bất động sản tiêu dùng, cũng như những dự án bất động sản thực sự hiệu quả.
Ngay cả ở lĩnh vực cho vay đầu tư chứng khoán, một số ngân hàng thương mại cũng đặt mục tiêu giải ngân, nhưng hạn mức tín dụng thấp hơn. Như tại Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) là kế hoạch giải ngân 300 tỷ đồng từ ngày 1/9; Eximbank cũng tăng hạn mức tín dụng loại này lên 800 tỷ đồng.
Một thành viên mới, Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank), cũng đang xem xét kế hoạch giải ngân cho các nhu cầu vay vốn đầu tư chứng khoán. Ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietBank, cho biết với vốn điều lệ 3.300 tỷ đồng, hạn mức tối đa cho nhóm nhu cầu này là 660 tỷ đồng, nhưng trước mắt ngân hàng có thể giải ngân một nửa theo danh mục và căn hạn mức cụ thể đối với các loại chứng khoán.
Và để thu hút thêm khác hàng vay vốn, từ cuối tháng 9 này, Ngân hàng Quốc tế (VIB) bắt đầu triển khai chương trình cho vay, tài trợ ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được tài trợ tới 95% trị giá L/C hoặc 90% trị giá hợp đồng với lãi suất vay VND chỉ tương đương như lãi suất vay USD.
Ngoài ra, một số ngân hàng khác như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà ĐBSCL cũng đang triển khai gói tín dụng hàng nghìn tỷ đồng hỗ trợ thu mua lúa gạo, thu mua và chế biến thủy sản…
Với những kế hoạch trên, cùng áp lực giải ngân vì lợi nhuận, có thể tăng trưởng tín dụng từ tháng 9 sẽ có cải thiện. Nhưng, với lãi suất vay vốn cao như hiện nay, tốc độ tăng trưởng không chỉ theo ý muốn chủ quan của các ngân hàng thương mại.
Nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đang lồ lộ trước mắt. Nhiều người nghĩ, Việt Nam không bị tác động nhiều, nhưng một nỗi lo từ khu vực xuất khẩu đang dần hiện hữu. Tại hội nghị giao ban trực tuyến bàn về giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu những tháng cuối năm, Bộ Công Thương đặt ra mục tiêu xuất khẩu cả năm tương đương 61,2 tỷ USD. Đến nay, xuất khẩu đã đi được 2/3 chặng đường nhưng điều muốn nói ở đây không phải vấn đề doanh số mà là câu chuyện rủi ro thanh toán xuất khẩu cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.
Theo bà Nguyễn Thanh Sơn, trợ lý đầu tư Ngân hàng Liên Việt, trong bối cảnh phức tạp của thị trường tài chính hiện nay, xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng bởi yếu tố cung cầu khi người dân nước nhập khẩu giảm chi tiêu.
Tuy nhiên, một loại rủi ro khác nguy hiểm hơn, đó là rủi ro thanh toán.
Hiện tại, một tỷ trọng khá lớn doanh số xuất khẩu Việt Nam thực hiện thông qua thanh toán thư tín dụng L/C theo hình thức tương đối chắc ăn là “không hủy ngang, có xác nhận”.
Theo đó, để tham gia vào hoạt động thanh toán xuất khẩu thì phải có 4 bên: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng bên xuất khẩu và ngân hàng bên nhập khẩu. Hình thức “không hủy ngang có xác nhận” được hiểu là bất cứ một điều khoản nào của hợp đồng thư tín dụng mà bên nhập khẩu thay đổi sẽ không có hiệu lực cho đến khi được sự đồng ý của bên xuất khẩu.
Trong trường hợp xuất khẩu vào những thị trường rủi ro thì ngoài 2 ngân hàng nói trên còn có sự hiện diện của một ngân hàng trung gian thứ 3 với vai trò “ngân hàng xác nhận”.
“Ngân hàng xác nhận” được coi gần như một công cụ bảo hiểm, có uy tín đối với ngân hàng của bên xuất khẩu và ngân hàng bên nhập khẩu. Ví dụ, khi xuất khẩu hàng sang Nga, một ngân hàng Nga nhận thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu Việt Nam nhưng nếu nhà xuất khẩu Việt Nam chưa yên tâm về ngân hàng đối tác, có thể yêu cầu ngân hàng Nga tìm một ngân hàng trung gian và độ tin cậy cao như HSBC xác nhận.
Giả định ngân hàng Nga vỡ nợ hoặc rơi vào tình trạng phá sản, không thanh toán được, thì HSBC phải thay mặt thanh toán cho bên Việt Nam.
Sẽ bớt lo nếu tất cả doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thực hiện thanh toán theo phương thức “không hủy ngang có xác nhận” nhưng thực tế, còn một tỷ lệ không nhỏ hàng xuất khẩu vẫn được thanh toán theo hình thức tín dụng thư thông thường hoặc thanh toán trực tiếp.
Điều này được hiểu là khi bán hàng, doanh nghiệp phó thác niềm tin vào đối tác và ít chú ý đến các biện pháp phòng tránh rủi ro. Giám đốc một ban của Tập đoàn Dệt may cho biết, khá nhiều doanh nghiệp vẫn thanh toán theo hình thức bên mua chuyển thẳng tiền vào tài khoản bên bán, không nhờ ngân hàng trả hộ, thu hộ và càng không bao giờ biết đến những phương thức thanh toán an toàn như “không hủy ngang có xác nhận”.
Vậy, doanh nghiệp xuất khẩu và ngân hàng phải làm gì trong bối cảnh hệ thống tài chính trên thế giới đang diễn ra vô cùng phức tạp?
Ông Phạm Văn Thành - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu (Eximbank) - cho biết: “Eximbank rất cảnh giác với những đối tác khi có thông tin không tốt và đương nhiên sẽ yêu cầu có ngân hàng thứ ba xác nhận dù phải trả phí xác nhận”.
Cùng với đó, Eximbank nhờ có một hệ thống đại lý rộng khắp trên thế giới nên việc luôn chuẩn bị phương án dự phòng khi đối tác gặp rủi ro. Ngoài ra, ngân hàng này còn theo dõi rất sát mọi nguồn tin về diễn biến tình hình trên thế giới, kết hợp với dự đoán của các nhà phân tích để có thể kết đưa ra quyết định nhanh nhất.
Nhưng để an toàn hơn và tránh rủi ro, ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam lưu ý đối với doanh nghiệp xuất khẩu rằng, khi thanh toán quốc tế phải lựa chọn ngân hàng đại diện cho hai bên thật uy tín và ràng buộc chặt vào hợp đồng.
Tiếp theo, doanh nghiệp phải tham khảo ý kiến tư vấn từ các ngân hàng trong nước để tìm hiểu rõ hơn về ngân hàng thanh toán mà đối tác đưa ra. Ngoài ra, doanh nghiệp nên sẵn sàng bỏ ra một khoản phí để trả cho ngân hàng xác nhận.
Để làm được việc này, theo ông Ân, các ngân hàng thương mại trong nước cho vay xuất khẩu cũng phải sát cánh với doanh nghiệp, để hỗ trợ doanh nghiệp.
Ngoài ra, một vấn đề khá nhạy cảm trong hoàn cảnh hiện nay là các ngân hàng thương mại trong nước có quan hệ tín dụng với khách hàng xuất khẩu, phục vụ đơn hàng xuất khẩu, cần rà soát các hợp đồng, kiểm tra kỹ tình hình thanh toán nợ, kiểm soát chặt chẽ các món vay, nhằm phòng tránh rủi ro một cách tốt nhất.
Và đương nhiên, sự cẩn trọng này cũng không thừa đối với các tập đoàn, tổng công ty trong nước trong các hợp đồng, giao dịch lớn với ngân hàng hay đối tác nước ngoài.
* Kết thúc 8 tháng đầu 2008, so với cùng kỳ năm trước, doanh số hàng xuất khẩu Việt Nam đạt 43,3 tỷ USD, tăng 39,1%. Không tính dầu thô và than đá, một số mặt hàng xuất khẩu đạt mức trên một tỷ USD như: dệt may đạt 6 tỷ USD, tăng 20%; giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 18,5%; hàng thủy sản đạt 2,9 tỷ USD, tăng 20,8%; gạo đạt 3,4 triệu tấn, tương đương 2,2 tỷ USD, giảm 4,8% về lượng và tăng 96,1% về kim ngạch; sản phẩm gỗ đạt 1,8 tỷ USD, tăng 20,5%; cà phê đạt 1,5 tỷ USD, tăng 9,2%; cao su đạt 1 tỷ USD, tăng 30,5%.
Ngày 8/9, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) và Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) đã liên kết ra mắt và đưa vào hoạt động sàn giao dịch vàng tại Tp.HCM.
Đến thời điểm này, tại Tp.HCM đang có 4 sàn giao dịch vàng hoạt động. Tại sàn vàng của SJC và Eximbank, nhà đầu tư có thể kinh doanh gấp 14 lần vốn tự có. Mức kí quỹ là 7% giá trị giao dịch.
Hoạt động mua bán thực hiện bằng các lệnh khớp lệnh liên tục. Biên độ dao động giá ±5%, số lượng giao dịch tối thiểu lệnh đặt là 50 lượng vàng.
Phí giao dịch được tính 1.000 đồng/lượng vàng khớp lệnh với các nhà đầu tư là thành viên, 2.000 đồng/lượng cho nhà đầu tư cá nhân, tổ chức khác.
Hạn mức cho nhà đầu tư thành viên vay tối đa tại sàn vàng là 200 tỷ đồng, 30 tỷ đồng cho nhà đầu tư cá nhân; lãi suất vay 20%/năm áp dụng cho tiền VND và 8%/năm đối với vàng SJC, mức lãi tiền gửi VND là 4%/năm.
Ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietBank nói về hệ thống an ninh bằng định vị vệ tinh (GPS) trong hoạt động kinh doanh.
Thưa ông, trong khi nhiều ngân hàng lớn khác chưa triển khai GPS, phải chăng, vì “sinh sau đẻ muộn” nên LienVietBank muốn đánh bóng thương hiệu?
GPS (Global Positioning System) là hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu, thường gọi tắt là định vị vệ tinh. Hiện việc triển khai GPS trong hoạt động kinh doanh ngân hàng còn rất mới ở Việt Nam. Sở dĩ LienVietBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam áp dụng GPS trong quản lý kinh doanh bởi vì chúng tôi đang đi theo tôn chỉ hoạt động đã vạch ra của mình “ngân hàng điện tử - hướng tới khách hàng” và “an toàn trước, hiệu quả sau”.
Đặc điểm kỹ thuật của GPS như thế nào và được triển khai ở những hoạt động cụ thể gì? Khách hàng và ngân hàng được lợi gì khi triển khai dịch vụ này?
GPS sẽ triển khai ở hoạt động an ninh quản lý tài sản của ngân hàng và khách hàng.
HSBC và Tổng công ty Bưu chính Việt Nam sẽ hợp tác liên kết hệ thống, cung cấp dịch vụ ngân hàng. Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa Ngân hàng HSBC với Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (VNPOST) đã được ký sáng nay (26/8).
Theo biên bản ghi nhớ này, HSBC và VNPOST sẽ hợp tác liên kết dịch vụ, kết nối hệ thống, cung cấp dịch vụ ngân hàng. Thông qua việc hợp tác, VNPOST, với mạng lưới toàn quốc các công ty con và các bưu cục, sẽ cung cấp dịch vụ thu hộ và chi hộ bằng Việt Nam đồng cho các khách hàng doanh nghiệp hoặc cá nhân có tài khoản tại HSBC.
Thông qua đầu mối VNPOST, số lượng điểm giao dịch của HSBC tại Việt Nam được nâng lên hơn 20.000 điểm.
Mặt khác, HSBC có mạng lưới trên 9.500 chi nhánh tại 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cùng VNPOST thúc đẩy cơ hội hợp tác trong dịch vụ chuyển ngoại tệ, kiều hối từ các nước vào Việt Nam và chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài.
Nội dung bản ghi nhớ nói trên còn bao gồm thỏa thuận bán chéo các sản phẩm và dịch vụ, hợp tác marketing, trao đổi thông tin và việc HSBC hỗ trợ công tác đào tạo cán bộ cho VNPOST ở trong và ngoài nước.
HSBC cũng sẽ cung cấp cho VNPOST giải pháp tổng thể về quản lý tiền tệ, bao gồm quản lý tính thanh khoản, thu, chi và quản lý dòng tiền...
Gần 100% ngân hàng thương mại đã giảm lãi suất huy động VND - một diễn biến được đánh giá là tích cực. Không ồn ào như các cuộc đua tăng lãi suất, một tháng qua các ngân hàng thương mại đã lần lượt giảm lãi suất huy động VND. Không còn những kỷ lục Từ ngày 28/7, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) bắt đầu áp biểu lãi suất huy động VND mới: Lãi suất cao nhất các sản phẩm cao nhất là 18,8%/năm (ngoài trừ chương trình ưu đãi người cao tuổi có đỉnh 19,4%/năm). Trước đó SCB là một trong những ngân hàng có lãi suất huy động cao nhất trên thị trường với những mức trên 19%/năm. Từ đầu tháng 7, một loạt các ngân hàng cổ phần khác cũng đã “âm thầm” điều chỉnh lại lãi suất huy động, giảm khá mạnh so với những đỉnh điểm cuối tháng 6 vừa qua. Hiện đã có gần 100% thành viên tham gia đợt điều chỉnh này.
Ngân hàng Nhà nước cho biết cung cầu ngoại tệ trên thị trường tuần qua đã cân bằng, các ngân hàng thương mại hiện không còn nhu cầu mua ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước. Theo Ngân hàng Nhà nước, thị trường tiền tệ tuần qua tiếp tục thế ổn định, cả về lãi suất huy động và cho vay, tỷ giá và nguồn cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế. Tỷ giá VND/USD niêm yết của các ngân hàng thương mại ở dưới mức trần quy định khoảng 70 đồng/USD và chênh lệch tỷ giá mua-bán USD khoảng 70-100 đồng/USD.
Ông Ferdinando Beccalli Falco, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc General Electric (GE) International đang có chuyến thăm Việt Nam và tham dự Ngày GE (GE Day), lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam vào ngày 25/7 vừa qua. Nhân dịp này, ông cũng dành thời gian chia sẻ với chúng tôi về những định hướng phát triển của GE tại Việt Nam. Là tập đoàn đầu tư đa ngành, riêng tại thị trường Việt Nam, GE có kế hoạch đầu tư ưu tiên vào lĩnh vực cụ thể nào không hay sẽ đầu tư cân bằng để giảm thiểu rủi ro?
Eximbank là ngân hàng cổ phần đầu tiên hạ lãi suất cho vay từ mức kịch trần 21% xuống 20%/năm. Trước đó Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Vietcombank, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) cũng đã hạ lãi suất đầu ra. Tuy nhiên, chưa có ngân hàng nào hạ lãi suất tiền gửi. Một số ngân hàng, thậm chí còn duy trì lãi suất cao bằng cách phát hành kỳ phiếu, tín phiếu. Tín phiếu kỳ hạn ba tháng của SaigonBank có lãi suất 19,3%/năm; sáu tháng 19,5%/năm. Vì sao?
Sau khi được phép thành lập ngân hàng bán lẻ sở hữu 100% ở Việt nam, ngân hàng ANZ đã giới thiệu dịch vụ mobile banking cho các khách hàng ở Hà Nội và Hồ Chí Minh.
ANZ bắt đầu vào thị trường việt nam từ năm 1993 với giấy phép kinh doanh là chi nhành ngân hàng nước ngoài và vận hành mạng lưới ATM quy mô nhỏ phục vụ cho khách hàng. Nhưng từ tuần trước ANZ việt nam đã trở thành ngân hàng nước ngoài đầy đủ tư cách hoạt động kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng. Đây cũng là một hệ quả của thỏa thuận mở cửa vào WTO của Việt nam về lĩnh vực ngân hàng đạt được năm ngoái. Ngay sau đó ANZ Việt Nam giới thiệu dịch vụ mobile banking miễn phí, khởi đầu là phục vụ cho khách hàng ở Hà Nội và tp Hồ Chí Minh.
Theo điều tra của các tổ chức Khảo sát thị trường, khoảng 18.5% dân số 85.2 triệu người việt nam sử dụng điện thoại di động, tuy nhiên tỷ lệ đăng ký sử dụng mobile thì càng những năm về đây càng tăng nhanh với khoảng 800.000 số tài khoản mới/ tháng