Có khá nhiều ưu thế so với kênh bán hàng truyền thống, không bị giới hạn về không gian, tiếp cận được với khách hàng và đối tác trên khắp thế giới, có thể cung cấp dịch vụ 24/24 giờ, thương mại điện tử đang ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn.
Tuy nhiên, thách thức vẫn còn ở phía trước.
Phát triển nhanh và đa dạng
Từ đầu năm 2007, Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ) đã triển khai kênh bán hàng điện tử. Tính đến tháng 8/2008, doanh thu từ kênh bán hàng này đã tăng 20% so với năm trước.
“Chúng tôi đã nghĩ đến việc phát triển một “cửa hàng online” để tiết giảm chi phí mặt bằng và thuê nhân viên cũng như khắc phục những giới hạn về không gian và thời gian của loại hình kinh doanh truyền thống”, ông Lê Vĩnh Thái, Phó giám đốc marketing PNJ, cho biết.
Trước đó, vào năm 2005, Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động đã nâng cấp trang web www.thegioididong.com thành một kênh bán hàng trong khi định hướng ban đầu chỉ là kênh thông tin, giới thiệu các mặt hàng công nghệ.
Ông Trần Nhật Linh, Giám đốc kênh bán hàng phi truyền thống của Thế Giới Di Động, cho biết số lượng đơn đặt hàng thông qua trang web đã tăng đáng kể, có khoảng 2.000-2.500 đơn hàng/tháng, đóng góp từ 1-1,5 tỉ đồng vào doanh thu hàng tháng của công ty.
“Với khoảng 500.000 lượt khách hàng truy cập vào trang web mỗi ngày, trong đó 30% là khách hàng truy cập thường xuyên, số đơn đặt hàng qua mạng của Thế Giới Di Động sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh”, ông Linh nhận định.
Theo ông Nguyễn Viết Hồng, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Truyền thông và Thương mại điện tử Thanh Long, chủ sở hữu trang thương mại điện tử www.thitruongviet.com.vn, thay vì đầu tư một trang web bán hàng riêng, doanh nghiệp có thể đăng ký một gian hàng trên chợ điện tử hay các siêu thị trực tuyến.
“Với sự đa dạng về chủng loại hàng hóa, cổng thương mại mang tính cộng đồng này sẽ thu hút nhiều khách hàng tìm đến mua sắm do tính tiện lợi và giá cả cạnh tranh. Lượng mua bán qua mạng của trang web thitruongviet trong nửa đầu năm 2008 tăng 30% so với cùng kỳ năm 2007, đạt khoảng 200 đơn hàng mỗi ngày”, ông Hồng nói.
Bên cạnh sự đa dạng của người bán, khách hàng tham gia đặt hàng thông qua các trang web cũng được mở rộng. Ngoài những người trẻ, nhân viên văn phòng không có thời gian mua sắm, nhiều công ty thương mại điện tử đã chú trọng đến một lượng lớn khách hàng dự án.
Bà Lê Thị Duy Linh, Giám đốc phát triển kinh doanh của Golmart, cho biết: “Trong hai năm gần đây, tình hình kinh doanh của www.golmart.vn đã cải thiện đáng kể nhờ số lượng lớn các công ty có nhu cầu thực hiện chương trình khuyến mãi, mua quà tặng cho nhân viên, đối tác… Doanh thu mỗi năm từ khách hàng dự án khoảng 20 tỉ đồng trong khi giao dịch của khách hàng cá nhân chỉ mang về khoảng 600-700 triệu đồng/năm”.
Ngoài các hình thức thanh toán truyền thống (tiền mặt, chuyển khoản qua ngân hàng, chuyển tiền qua bưu điện…), phần lớn các trang thương mại điện tử hiện nay đều đã chấp nhận phương tiện thanh toán bằng thẻ tín dụng hay thẻ ATM.
Ông Nguyễn Viết Hồng cho biết hiện Công ty Thanh Long đã liên kết với Ngân hàng Đông Á thực hiện dịch vụ thanh toán trực tuyến bằng thẻ đa năng Đông Á thông qua hình thức Internet Banking.
Sắp tới, trang web thitruongviet sẽ mở rộng thanh toán qua hệ thống thẻ ATM liên kết của các ngân hàng trong nước, thay vì chỉ là thẻ Visa hay MasterCard như trước đây. Trong năm 2007, số lượng thẻ ATM ở nước ta đã đạt 8,4 triệu thẻ và có mức độ tăng trưởng 150%/năm.
Nhiều thách thức
Thông tin giữa doanh nghiệp thương mại điện tử và công ty dịch vụ thanh toán trực tuyến được đảm bảo an toàn bằng chữ ký số và xác thực địa chỉ mạng.
Tuy vậy, thanh toán trong thương mại điện tử Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề về chi phí và an toàn trong giao dịch.
“Hiện nay, chúng tôi vẫn chưa mạnh dạn áp dụng các hình thức thanh toán trực tuyến, một phần vì phí giao dịch quá cao trong khi người mua chưa chấp nhận chi trả khoản phí này”, ông Linh, Công ty Thế Giới Di Động, cho biết.
Khi thanh toán bằng thẻ tín dụng, chi phí cho mỗi giao dịch khoảng 3-4% giá trị đơn hàng. Thêm nữa, số người sử dụng thẻ tín dụng ở nước ta chưa nhiều trong khi nhiều tính năng của thẻ ATM vẫn chưa được khai thác đúng mức.
Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử, Bộ Công Thương, tính đến năm 2007, chỉ có 14,3% doanh nghiệp thương mại điện tử áp dụng hình thức thanh toán bằng thẻ tín dụng, trong khi chủ yếu vẫn là hình thức chuyển khoản qua ngân hàng, tiền mặt khi giao hàng, chuyển tiền qua bưu điện.
Thêm nữa, trong thời gian qua, tình trạng hacker tấn công, ăn cắp thông tin thẻ tín dụng để mua hàng trực tuyến đã trở nên phố biến. “Để đảm bảo an toàn cho thanh toán bằng thẻ tín dụng, chúng tôi đành yêu cầu khách hàng thực hiện một số xác nhận mang tính thủ công như fax hai mặt thẻ, chữ ký và passport. Vì thế nhiều khách hàng lại chuyển sang thanh toán bằng những hình thức truyền thống”, bà Linh, Công ty Golmart, nói.
Trên lý thuyết, do tiết giảm được khá nhiều chi phí mặt bằng, nhân sự, giá hàng hóa được bày bán trên mạng phải thấp hơn 20-30% so kênh truyền thống. Thế nhưng thực tế, giá hàng hóa bán ở các trang thương mại điện tử Việt Nam đôi khi còn cao hơn sau khi cộng các chi phí phát sinh, nhất là chi phí vận chuyển.
“Đối với những hàng hóa có giá trị cao như nữ trang, nếu giao hàng thông qua các công ty giao nhận, khách hàng sẽ phải trả mức phí bảo hiểm là 2%/tổng đơn hàng”, ông Thái, Công ty PNJ, cho biết.
Ông Ho-Ming Huang, cựu Chủ tịch Hiệp hội An ninh mua sắm trực tuyến (Secure Online Shopping Association - SOSA) Đài Loan, phân tích có ba rào cản lớn nhất mà thương mại điện tử ở các thị trường mới nổi phải đối mặt. Ngoài hai rào cản mà nhiều doanh nghiệp đã nhận thấy là phương tiện thanh toán và hệ thống giao nhận, còn có một rào cản khá lớn là luồng thông tin.
“Vì khách hàng không được xem kỹ mọi chi tiết, dùng thử nên thông tin về sản phầm trên trang web phải được trình bày rõ ràng, đầy đủ, và phải hấp dẫn. Những tiêu chí về chính sách trả lời đơn đặt hàng, hoàn trả sản phẩm, bảo hành, giá bán, khuyến mãi… phải được cập nhật liên tục. Thêm nữa, sản phẩm bày bán cần được trình bày khoa học và tiện lợi, cung cấp cho khách nhiều sự lựa chọn về giá, về tính năng sản phẩm. Sau khi quyết định mua món hàng, người tiêu dùng còn được giới thiệu các phụ kiện đi kèm, vừa kích cầu, vừa tạo cảm giác thoải mái cho người mua. Trang web phải tỏ ra là một nhân viên bán hàng am hiểu sản phẩm và thấu hiểu tâm lý người tiêu dùng”, ông Huang chia sẻ.
Ông Lê Hải Bình, Giám đốc Công ty Mắt Bão, cho biết thêm: “Khi xây dựng một trang web thương mại điện tử, doanh nghiệp cần lưu ý đến việc lựa chọn một không gian lưu trữ (hosting) an toàn và phù hợp với tốc độ phát triển trong tương lai. Tránh trường hợp phải tạm ngưng nhiều lần để nâng cấp hosting, vừa tăng chi phí, dễ đánh mất thông tin khách hàng hay gây lãng phí nếu thuê một hosting quá lớn”.
Các doanh nghiệp hoạt động thương mại điện tử đều có chung nhận định việc khai thông các rào cản về kỹ thuật là việc có thể làm được trong khi thay đổi nhận thức, thói quen và tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng mới là việc khó khăn và hiện là rào cản lớn nhất.
“Trong 100 đơn đặt hàng trên trang web thitruongviet mỗi ngày, có đến 70 đơn hàng là đặt thử”, ông Hồng cho biết. Thegioididong.com cũng rơi vào tình cảnh tương tự, trong tổng số 2.000-2.500 đơn đặt hàng mỗi tháng, chỉ khoảng 20-25% là đơn hàng thật.
Ông Ho-Ming Huang chia sẻ kinh nghiệm rằng, SOSA đã triển khai việc dán tem bảo đảm cho các trang web thương mại điện tử uy tín để giảm thiểu rủi ro và mang lại sự an tâm cho người mua. Chỉ những trang web nào thỏa mãn những điều kiện cần thiết về bảo vệ dữ liệu cá nhân, các nguyên tắc về kinh doanh mới được cấp logo và sẽ kiểm tra lại sau mỗi năm.
Người mua chỉ cần click vào logo này sẽ được dẫn đến mục xác nhận đảm bảo của trang web trên SOSA và đường dẫn đến những thông tin cần thiết về công ty, về sản phẩm. Thêm nữa, tổ chức này sẽ làm trung gian hòa giải cho những tranh chấp phát sinh giữa khách hàng và người bán hàng trong quá trình giao dịch.
* Theo mạng Visa, Việt Nam là nước đứng thứ ba về tốc độ phát triển thương mại điện tử trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Với cơ cấu dân số trẻ (60% dưới 30 tuổi), năng động trong tiêu dùng và nhạy bén trong ứng dụng công nghệ mới, Việt Nam có khoảng 20 triệu người (chiếm 22,7% dân số) sử dụng Internet thường xuyên. Tính đến năm 2007, đã có 92% doanh nghiệp có kết nối Internet, trong đó 82% dùng dịch vụ ADSL.
Mỹ Hạnh (TBKTSG) |
|
Last Updated on Sunday, 28 September 2008 23:02 |
|
Cầm số tiền vừa nhận từ máy ATM, nhét vội vào túi, người thanh niên bước nhanh ra khỏi chỗ rút tiền và phóng thẳng về nhà ở cách đó không xa. Cánh cửa sắt nặng mở ra, anh bước vào trong và đóng ngay cửa lại.
Trong nhà mọi thứ đều mờ mờ ảo ảo nhờ ánh sáng phát ra từ màn hình máy vi tính. Ở một góc khuất cạnh bàn, những thùng giấy được chất thành đống ngổn ngang, tất cả đều dán tem với địa chỉ người gửi từ Mỹ. Anh kéo hộc bàn đầy hóa đơn rút tiền, lấy một cái từ túi quần ra, nhét vào ngăn. Người thanh niên ngồi xuống trước màn hình máy tính, mở e-mail ra và kiểm tra, chốc chốc nhếch mép cười “lại ped”. Cơ, tên người thanh niên, là một trong những casher (người rửa tiền) có “máu mặt” trong làng casher của giới UG (UnderGround: thế giới ngầm) trên mạng Việt Nam - một trong những loại tội phạm kinh tế nguy hiểm nhất và phát triển mạnh nhất ở Việt Nam hiện nay: rửa tiền trên mạng.
Để tiến hành việc rửa tiền, đầu tiên casher cần có là cc (credit card, còn được gọi là xê xê, xi xi, cào cào, châu chấu, con cáo, con cá….). Kể từ khi Internet bắt đầu phát triển mạnh cách đây một thập kỷ, giao dịch điện tử trên mạng ngày càng tăng và theo quy luật tự nhiên, tội phạm mạng cũng bắt đầu gia tăng với tốc độ không kém. Ở Mỹ và các nước Châu Âu, các shop bán hàng lớn bắt đầu mở trang web của họ và bán qua mạng. Người ta đua nhau sử dụng thẻ tín dụng (credit card) để mua hàng.
Quá trình này đều được thực hiện theo các bước: người mua vào trang web bán hàng, chọn lựa sàn phẩm họ ưa thích, nhập số thẻ tín dụng và mã số xác nhận, thông tin về người mua, kế đến hàng sẽ được chuyển về địa chỉ của họ. Quy trình tưởng như khép kín này lại chứa đựng một nguy cơ tiềm ẩn: lộ thông tin thẻ tín dụng. Điều gì sẽ xảy ra nếu như một hacker cao tay chiếm được quyền kiểm soát trang web bán hàng đó? Hắn ta sẽ có được một cơ sở dữ liệu chứa đầy thông tin thẻ tín dụng, thông tin thanh toán: tất cả những gì cần thiết để sử dụng trái phép thẻ tín dụng đó. Nếu casher không phải là một hacker cao tay, anh ta có thể mua thẻ tín dụng từ những hacker khác, trong một số diễn đàn rửa tiền của Việt Nam, thẻ tín dụng được chia sẻ hàng ngày và miễn phí.
Vậy hacker làm gì với thẻ tín dụng có được? Họ sẽ cố gắng biến tiền trong thẻ thành tiền sạch của mình, gọi là “carding” và tiền này phải có được yêu cầu tiên quyết: sạch, không sợ bị pháp luật sờ gáy. Đầu tiên, các casher lười biếng sẽ tìm đến cách dễ nhất để tiêu thụ thẻ là bán lại cho người khác. Giá thẻ tín dụng chùa dao động tùy thời điểm và tùy loại thẻ. Những thẻ có khả năng chi trả cao như American Express sẽ có giá cao, khoảng từ 1 - 2 USD, còn lại là Visa, Master, Discover có giá thấp hơn: từ 0,5 - 1 USD. Một thị trường chợ đen được hình thành và giá bán hầu như được thống nhất. Các casher sẽ bán thẻ cho người cần sử dụng, nhận tiền qua thẻ ATM hoặc tiền ảo trên mạng ( Egold, Liberty Reverse…), thẻ điện thoại. Cả hai đều sử dụng nick chat Yahoo và đây là cách có thể gọi là an toàn nhất.
Kế đến là phương pháp được sử dụng nhiều nhất: dùng thẻ chùa để mua hàng trên mạng. Vì các trang web giao dịch trực tuyến hầu hết không chấp nhận khách hàng đến từ Việt Nam nên đầu tiên casher phải tìm được một người sống ở các quốc gia được chấp nhận, thông thường là ở Mỹ. Khó khăn tiếp theo là địa chỉ IP, dãy số đặc trưng cho một máy tính nối vào mạng Internet, cung cấp thông tin về quốc gia, thậm chí thành phố của người sử dụng mạng. Vì vậy nếu casher ở Việt Nam, anh ta không thể trực tiếp dùng địa chỉ IP của mình để mua hàng mà phải thông qua một proxy, socks (máy tính trung gian) đặt ở Mỹ để tiến hành giao dịch thanh toán. Người ta có thể dễ dàng tìm được proxy trên mạng, những proxy tốt được sắp xếp theo quốc gia, bang, thành phố và được bán công khai tại một số trang web như: 5socks.net, vip72.com… Kế đến họ thiết lập thỏa thuận: shipper (tiếng lóng chỉ casher rửa tiền theo cách này) mua hàng trên mạng gửi cho dropper (người nhận hàng). Sau đó có 2 cách giải quyết: dropper tiêu thụ hàng hoặc giữ lại dùng và gửi tiền cho shipper hoặc dropper gửi hàng về Việt Nam cho shipper.
Điểm đáng ngạc nhiên là ngay cả việc dán tem để gửi hàng về cũng được thực hiện “chùa”: casher dùng thẻ chùa mua tem trên mạng (hệ thống bưu điện Mỹ cho phép dùng thẻ tín dụng mua tem với địa chỉ người gửi và nhận được in sẵn trên tem) và gửi cho dropper dán vào hàng cần chuyển. Việc này tưởng như đơn giản nhưng lại rất khó khăn, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm của từng shipper, các shop có độ khó khác nhau và phải sử dụng loại thẻ khác nhau. Các shipper hàng “cao thủ” có cả danh sách BIN (6 chữ số đầu của thẻ tín dụng, phụ thuộc vào ngân hàng và loại thẻ), dựa vào đó họ có thể phân loại thẻ, nhận biết thẻ nào có nhiều hay ít tiền, số tiền tối đa trong một lần chi trả… Trình độ của các shipper còn được tính trên tỉ lệ “ped”(thành công mua hàng) và “led”(thất bại) - theo tiếng lóng.
Giữa các shipper và dropper chỉ giao tiếp với nhau qua nick chat nên việc lừa lọc là thường xuyên. Đối với các shipper non kém, họ sẽ bỏ qua nhưng đối với những tay cáo già, họ sẽ “chơi cho chết” dropper phản bội bằng cách ship thật nhiều hàng đến nhà dropper để gây ra sự nghi ngờ và hậu quả có thể khiến dropper vào tù. Sự gia tăng các hoạt động phạm pháp này khiến casher nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, buôn bán, từ đó các diễn đàn được thành lập để chia sẻ kinh nghiệm về các shop cardable (có thể rửa tiền - tiếng lóng), các thủ thuật qua mặt trang bán hàng…
Có những diễn đàn lớn như viet4…. số thành viên lên đến hơn mười nghìn, chúng ta thử làm một phép tính nhỏ, cho rằng số shipper có thể kiếm được tiền chỉ là 1/5 số đó là 2.000 người, lượng tiền một người kiếm được trong 1 ngày là 200 USD (con số thực tế có thể từ 100 - 3.000 USD tùy theo giá trị món hàng) thì tổng số tiền thất thoát đã là 400.000 USD/ngày. Đây là con số còn thấp hơn nhiều so với thực tế nhưng nó cũng giúp chúng ta thấy được mức độ tổn thất khủng khiếp mà loại tội phạm kinh tế này gây ra.
Trên đây là hai cách thường được sử dụng bởi các casher tầm trung và casher newbie (chỉ người vừa vào “nghề”). Ở trình độ “cao” hơn, một số ít casher có tham gia các diễn đàn casher lớn của thế giới sử dụng những cách thức tinh vi và mất nhiều công sức như chơi poker, bet (đánh bài, cá độ trực tuyến), fake Affiliate (làm đại lý giả mạo), fake shop (làm site bán hàng giả mạo)…
Hiện nay, trên mạng có rất nhiều trang cho cá độ bóng đá, thể thao và đánh bài trực tuyến, cho phép người tham gia deposit (nạp tiền) vào tài khoản cá độ, đánh bài từ thẻ tín dụng và withdraw (rút tiền) từ tài khoản cá độ, đánh bài ra tài khoản ngân hàng, séc hoặc các tài khoản thanh toán trực tuyến như MoneyBookers, Paypal. Cách thực hiện của casher khá đơn giản: dùng thẻ chùa nạp tiền vào tài khoản cá độ, đánh bài, chơi một vài ván đề tránh sự nghi ngờ, sau đó rút tiền từ tào khoàn đó ra tài khoản ngân hàng… đơn giản nhưng hiệu quả.
Ngoài ra, có những trang web bán hàng trên mạng cho phép người khác làm đại lý ăn hoa hồng của họ: bạn giới thiệu người khác vào mua hàng trên trang web của họ, họ sẽ chi phần trăm hoa hồng lại cho bạn. Vậy casher làm gì? Câu trả lời là: trò chơi hai mặt. Một mặt, casher đóng vai đại lý bán hàng: đặt banner của website bán hàng trên site của họ (mỗi banner có kèm theo đoạn mã, khi người khác click vào thì chủ site bán hàng sẽ biết được, từ đó họ có thể trả tiền cho đại lý giới thiệu). Mặt khác, họ đóng vai “người được giới thiệu”: tự click vào banner của site bán hàng, dùng thẻ chùa mua hàng và cuối cùng phần trăm hoa hồng sẽ chảy vào tài khoản làm đại lý của họ.
Ví dụ: bạn làm đại lý bán hàng cho công ty B, bạn đóng giả người khác, dùng thẻ chùa mua hàng của công ty B là 100 USD và nói với B người giới thiệu bạn mua hàng là đại lý của bạn thì công ty B sẽ trả 10 USD hoa hồng cho đại lý của bạn. Từ đó casher rút tiền về qua séc, tài khoản ngân hàng…và tất nhiên tiền khi qua quy trình này đã trở thành tiền sạch 100%. Đây là một cách khó vì dễ bị chủ site bán hàng phát hiện, khóa tài khoản đại lý. Một biến tướng của fake affliate là fake affiliate sex (đại lý của các trang bán phim, truyện sex), khó hơn nhưng thuận lợi hơn trong việc rút tiền (qua epassporte). Với cách này casher có thể kiếm được từ 500-100 USD hoặc hơn, tùy trình độ, thời gian đầu tư và độ kiên nhẫn của hacker.
Còn fake shop là phương pháp rửa tiền khó nhất mà chỉ số ít casher chóp bu ở Việt Nam có thể làm được. Đầu tiên casher tự tạo một shop bán hàng “danh chính ngôn thuận”, đăng ký trang bán hàng với một paygate (cổng thanh toán trực tuyến), thông thường là Paypal, Swreg, 2checkout… Tiếp đó, họ sẽ cố gắng nâng cao thứ hạng shop bán hàng của mình, tạo lòng tin với paygate. Cuối cùng, casher dùng thẻ chùa vào shop của chính mình, tự mua hàng và thanh toán. Tiền sẽ chảy vào tài khoản trong paygate (ví dụ tài khoản Paypal) của casher, và đến kỳ hạn chỉ cần rút tiền ra: hoàn toàn sạch. Cách này vất vả vì casher phải chuẩn bị thật kỹ lưỡng, đầu tư nhiều thời gian để tạo uy tín shop cho mình, nâng thứ hạng và tránh nghi ngờ từ paygate. Nhưng nếu thực hiện thành công thì số tiền “kiếm” được không phải là nhỏ.
Ngoài ra còn một phương pháp khác như lừa đảo tài khoản ngân hàng ( Scam online bank account), cashout từ Western Union và các dịch vụ chuyển tiền online, fake Google AdSense, Adbrite (tự bán quảng cáo, tự mua)... nhưng vì độ khó của nó nên phần nào làm chùn bước các casher Việt Nam.
Các hacker Việt Nam hiện nay đã biến tướng khá nhiều, chuyển từ hack để chứng tỏ thành tích sang mục đích trục lợi.
An Khang http://vnexpress.net/GL/Vi-tinh/2008/09/3BA06D44/
|
|
Last Updated on Friday, 26 September 2008 15:05 |
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì những dự án đầu tư ra nước ngoài phải có tính khả thi, doanh nghiệp phải có năng lực tài chính đáp ứng yêu cầu đầu tư ra nước ngoài và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Để có giấy phép đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp cần phải có văn bản cho phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư cấp hoặc hợp đồng, bản thỏa thuận với bên nước ngoài về dự án đầu tư, giải trình về mục tiêu của dự án, nguồn gốc các khoản vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cũng phải nói rõ về tình hình tài chính của mình, hình thức đầu tư, phương thức chuyển vốn, phương thức chuyển lợi nhuận về nước. Việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài bằng tiền phải tuân thủ các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối.
Thủ tục vẫn nhiêu khê
Quy định là vậy, nhưng trong thực tế việc đầu tư ra nước ngoài đang vấp phải nhiều khó khăn do những thủ tục quản lý từ phía cơ quan Nhà nước.
Thứ nhất, việc cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài chưa được phân cấp, còn tập trung ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Các doanh nghiệp ở địa phương muốn đầu tư ra nước ngoài đều phải tốn thời gian đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xin phép.
Tính ra, doanh nghiệp muốn hoàn thiện thủ tục để có được giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải qua 11 đầu mối các cơ quan quản lý trong nước.
Khó khăn thứ hai, các doanh nghiệp trong nước muốn có giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải có văn bản cho phép hoặc thoả thuận với bên nước ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia lại có quy định chỉ được phép đầu tư vào quốc gia đó khi đã được sự cho phép của quốc gia mà doanh nghiệp đầu tư mang quốc tịch. Điều này để tránh được nạn “rửa tiền” thông qua việc đầu tư ra nước ngoài, quốc gia tiếp nhận đầu tư muốn những đồng tiền “sạch” chảy vào thị trường của mình.
Sự trái nhau về những quy định cấp phép đầu tư này sẽ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp muốn đem vốn ra nước ngoài kinh doanh.
Thứ ba, vướng mắc nhiều nhất hiện nay là vấn đề chuyển vốn ra nước ngoài để thực hiện đầu tư. Thông tư số 01/2001/TT- NHNN ngày 19/1/2001 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, doanh nghiệp phải mở một tài khoản tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và mọi giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vào Việt Nam liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp phải được thực hiện thông qua tài khoản này. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải làm thủ tục đăng ký với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại địa phương mình có trụ sở chính về việc mở tài khoản ngoại tệ và tiến độ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Như vậy, cùng một việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp phải hai lần đăng ký mở tài khoản, với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và với ngân hàng thương mại khác hoạt động tại Việt Nam. Doanh nghiệp chỉ được phép sử dụng nguồn ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của mình mở tại ngân hàng được phép để chuyển ra nước ngoài góp vốn đầu tư trên cơ sở quy định tại giấy phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Ngoài ra, để mở được tài khoản tại ngân hàng phục vụ việc chuyển tiền ra nước ngoài đầu tư doanh nghiệp phải chứng minh được dự án đầu tư, giấy phép đầu tư do nước ngoài cấp...
Như vậy giai đoạn làm khảo sát, thăm dò, thiết kế dự án của doanh nghiệp tại nước ngoài sẽ không được chuyển tiền ra nước ngoài. Đây sẽ là khó khăn cho doanh nghiệp khi hoạt động chuẩn bị cho dự án đầu tư, trong khi đây là giai đoạn cần thiết để có được giấy phép chấp thuận đầu tư của nước doanh nghiệp muốn đầu tư.
Khó khăn thứ tư là doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về địa bàn đầu tư, về các quy định pháp lý về đầu tư... Thường thì các doanh nghiệp tự tìm hiểu, nhưng đây là một điều khó khăn cần các cơ quan chức năng, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại các thị trường cung cấp cho doanh nghiệp.
Đôi khi nhiều doanh nghiệp Việt Nam cùng đầu tư một lĩnh vực tại một thị trường dẫn đến sự cạnh tranh không cần thiết và các cơ quan chức năng phải là đầu mối cung cấp thông tin về từng thị trường khi có doanh nghiệp trong nước tìm hiểu để tránh tình trạng này.
Pháp lý hoá hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Một khó khăn nữa là các quy định pháp lý về đầu tư gián tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp trong nước chưa được hình thành trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các quy định lâu nay chỉ dừng lại ở những khoản đầu tư trực tiếp, có nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam bỏ vốn đầu tư, tham gia hoạt động quản lý dự án đầu tư tại nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài có nghĩa là nhà đầu tư Việt Nam không trực tiếp tham gia quản lý dự án đầu tư thì lại chưa được đề cập đến, trong khi hình thức đầu tư này đang trở nên phổ biến hiện nay. Rồi quy định về đầu tư vào nước thứ ba cũng cần được pháp lý hoá.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Đức Hoà thừa nhận các quy định pháp lý về đầu tư ra nước ngoài cũng cần được hoàn thiện hơn vì hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và nhu cầu mở rộng thị trường ra nước ngoài là điều tất yếu.
Hiện nay vẫn chưa có được một kế hoạch tổng thể xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, trong thời gian tới các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ đưa ra danh mục ngành hàng khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, địa bàn chiến lược khuyến khích đầu tư... và đây sẽ là điểm mà các doanh nghiệp trong nước quan tâm nhiều. Nâng cao sự hỗ trợ của cơ quan quản lý đối với các doanh nghiệp khi phát sinh các tranh chấp pháp lý tại nước mà doanh nghiệp đầu tư. |
|
Last Updated on Wednesday, 24 September 2008 11:59 |
Nhiều ngân hàng đang lên kế hoạch đẩy mạnh giải ngân vào dịp cuối năm, sau tín hiệu tăng chậm của dư nợ.
Trong hai tháng liên tiếp, tăng trưởng tín dụng hệ thống ngân hàng rơi vào “vùng đáy” kể từ đầu năm. Cụ thể, trong tháng 7 và 8, tỷ lệ tương ứng chỉ là 0,7% và 0,79%.
“Vùng đáy” đó lại đặt trong bối cảnh khó khăn thanh khoản đã giảm bớt, nhiều ngân hàng cùng lên tiếng tăng cường giải ngân, giảm lãi suất hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu… Từ đây có thể thấy hoạt động cho vay của các ngân hàng đang gặp khó khăn.
Khó khăn đó trước hết có từ lãi suất cho vay quá cao, hạn chế nhiều nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp và vay tiêu dùng. Kế đến là những mảng tín dụng vốn hấp dẫn và chiếm tỷ trọng lớn trước đây là cho vay đầu tư chứng khoán, bất động sản đã và đang bị thu hẹp.
Trong khi đó, nguồn thu chính của các ngân hàng thương mại hiện vẫn là từ tín dụng (chiếm từ 70% - 90%). Với tốc độ tăng trưởng liên tục ở mức thấp trong hai tháng nói trên, mục tiêu lợi nhuận năm nay của nhiều thành viên đang đứng trước trở ngại nếu không có chuyển biến trong thời gian tới.
Theo đó, tăng cường giải ngân đang là một hướng lựa chọn. Và với mức tăng trên dưới 18% so với cuối năm 2007, các ngân hàng vẫn còn một dư địa khá lớn theo hạn mức 30% năm nay để đẩy mạnh cho vay trong thời gian còn lại của năm.
Từ tháng 9 này, một loạt ngân hàng thương mại tuyên bố sẽ dành hàng nghìn tỷ đồng để cho vay, tập trung ở nhóm khách hàng truyền thống và khối doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu…
Tại Ngân hàng Á châu (ACB), kế hoạch đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng những tháng cuối năm đã được thông qua, bắt đầu từ tháng 9 này. Đó là kế hoạch cung 5.000 tỷ đồng cho đối tượng là các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể và các cá nhân.
Tại Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), đó là kế hoạch tăng thêm 3.000 tỷ đồng cho chương trình tài trợ xuất khẩu từ cuối tháng 9 này, sau khi đã giải ngân 2.000 tỷ đồng trong hai tháng trước đó (riêng tài trợ xuất khẩu). Đi cùng với tăng cường giải ngân, Eximbank thực hiện giảm lãi suất USD để kích thích và hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn.
Tại Ngân hàng Ngoài quốc doanh (VPBank), theo Tổng giám đốc Lê Đắc Sơn, một nguồn tín dụng khoảng 2.000 tỷ đồng đang được xem xét để hỗ trợ cho những nhu cầu mua bất động sản tiêu dùng, cũng như những dự án bất động sản thực sự hiệu quả.
Ngay cả ở lĩnh vực cho vay đầu tư chứng khoán, một số ngân hàng thương mại cũng đặt mục tiêu giải ngân, nhưng hạn mức tín dụng thấp hơn. Như tại Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) là kế hoạch giải ngân 300 tỷ đồng từ ngày 1/9; Eximbank cũng tăng hạn mức tín dụng loại này lên 800 tỷ đồng.
Một thành viên mới, Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank), cũng đang xem xét kế hoạch giải ngân cho các nhu cầu vay vốn đầu tư chứng khoán. Ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietBank, cho biết với vốn điều lệ 3.300 tỷ đồng, hạn mức tối đa cho nhóm nhu cầu này là 660 tỷ đồng, nhưng trước mắt ngân hàng có thể giải ngân một nửa theo danh mục và căn hạn mức cụ thể đối với các loại chứng khoán.
Và để thu hút thêm khác hàng vay vốn, từ cuối tháng 9 này, Ngân hàng Quốc tế (VIB) bắt đầu triển khai chương trình cho vay, tài trợ ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Doanh nghiệp xuất khẩu sẽ được tài trợ tới 95% trị giá L/C hoặc 90% trị giá hợp đồng với lãi suất vay VND chỉ tương đương như lãi suất vay USD.
Ngoài ra, một số ngân hàng khác như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà ĐBSCL cũng đang triển khai gói tín dụng hàng nghìn tỷ đồng hỗ trợ thu mua lúa gạo, thu mua và chế biến thủy sản…
Với những kế hoạch trên, cùng áp lực giải ngân vì lợi nhuận, có thể tăng trưởng tín dụng từ tháng 9 sẽ có cải thiện. Nhưng, với lãi suất vay vốn cao như hiện nay, tốc độ tăng trưởng không chỉ theo ý muốn chủ quan của các ngân hàng thương mại. |
|
Last Updated on Tuesday, 23 September 2008 21:44 |
Nguy cơ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đang lồ lộ trước mắt. Nhiều người nghĩ, Việt Nam không bị tác động nhiều, nhưng một nỗi lo từ khu vực xuất khẩu đang dần hiện hữu. Tại hội nghị giao ban trực tuyến bàn về giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu những tháng cuối năm, Bộ Công Thương đặt ra mục tiêu xuất khẩu cả năm tương đương 61,2 tỷ USD. Đến nay, xuất khẩu đã đi được 2/3 chặng đường nhưng điều muốn nói ở đây không phải vấn đề doanh số mà là câu chuyện rủi ro thanh toán xuất khẩu cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.
Theo bà Nguyễn Thanh Sơn, trợ lý đầu tư Ngân hàng Liên Việt, trong bối cảnh phức tạp của thị trường tài chính hiện nay, xuất khẩu sẽ bị ảnh hưởng bởi yếu tố cung cầu khi người dân nước nhập khẩu giảm chi tiêu.
Tuy nhiên, một loại rủi ro khác nguy hiểm hơn, đó là rủi ro thanh toán.
Hiện tại, một tỷ trọng khá lớn doanh số xuất khẩu Việt Nam thực hiện thông qua thanh toán thư tín dụng L/C theo hình thức tương đối chắc ăn là “không hủy ngang, có xác nhận”.
Theo đó, để tham gia vào hoạt động thanh toán xuất khẩu thì phải có 4 bên: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, ngân hàng bên xuất khẩu và ngân hàng bên nhập khẩu. Hình thức “không hủy ngang có xác nhận” được hiểu là bất cứ một điều khoản nào của hợp đồng thư tín dụng mà bên nhập khẩu thay đổi sẽ không có hiệu lực cho đến khi được sự đồng ý của bên xuất khẩu.
Trong trường hợp xuất khẩu vào những thị trường rủi ro thì ngoài 2 ngân hàng nói trên còn có sự hiện diện của một ngân hàng trung gian thứ 3 với vai trò “ngân hàng xác nhận”.
“Ngân hàng xác nhận” được coi gần như một công cụ bảo hiểm, có uy tín đối với ngân hàng của bên xuất khẩu và ngân hàng bên nhập khẩu. Ví dụ, khi xuất khẩu hàng sang Nga, một ngân hàng Nga nhận thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu Việt Nam nhưng nếu nhà xuất khẩu Việt Nam chưa yên tâm về ngân hàng đối tác, có thể yêu cầu ngân hàng Nga tìm một ngân hàng trung gian và độ tin cậy cao như HSBC xác nhận.
Giả định ngân hàng Nga vỡ nợ hoặc rơi vào tình trạng phá sản, không thanh toán được, thì HSBC phải thay mặt thanh toán cho bên Việt Nam.
Sẽ bớt lo nếu tất cả doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thực hiện thanh toán theo phương thức “không hủy ngang có xác nhận” nhưng thực tế, còn một tỷ lệ không nhỏ hàng xuất khẩu vẫn được thanh toán theo hình thức tín dụng thư thông thường hoặc thanh toán trực tiếp.
Điều này được hiểu là khi bán hàng, doanh nghiệp phó thác niềm tin vào đối tác và ít chú ý đến các biện pháp phòng tránh rủi ro. Giám đốc một ban của Tập đoàn Dệt may cho biết, khá nhiều doanh nghiệp vẫn thanh toán theo hình thức bên mua chuyển thẳng tiền vào tài khoản bên bán, không nhờ ngân hàng trả hộ, thu hộ và càng không bao giờ biết đến những phương thức thanh toán an toàn như “không hủy ngang có xác nhận”.
Vậy, doanh nghiệp xuất khẩu và ngân hàng phải làm gì trong bối cảnh hệ thống tài chính trên thế giới đang diễn ra vô cùng phức tạp?
Ông Phạm Văn Thành - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu (Eximbank) - cho biết: “Eximbank rất cảnh giác với những đối tác khi có thông tin không tốt và đương nhiên sẽ yêu cầu có ngân hàng thứ ba xác nhận dù phải trả phí xác nhận”.
Cùng với đó, Eximbank nhờ có một hệ thống đại lý rộng khắp trên thế giới nên việc luôn chuẩn bị phương án dự phòng khi đối tác gặp rủi ro. Ngoài ra, ngân hàng này còn theo dõi rất sát mọi nguồn tin về diễn biến tình hình trên thế giới, kết hợp với dự đoán của các nhà phân tích để có thể kết đưa ra quyết định nhanh nhất.
Nhưng để an toàn hơn và tránh rủi ro, ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam lưu ý đối với doanh nghiệp xuất khẩu rằng, khi thanh toán quốc tế phải lựa chọn ngân hàng đại diện cho hai bên thật uy tín và ràng buộc chặt vào hợp đồng.
Tiếp theo, doanh nghiệp phải tham khảo ý kiến tư vấn từ các ngân hàng trong nước để tìm hiểu rõ hơn về ngân hàng thanh toán mà đối tác đưa ra. Ngoài ra, doanh nghiệp nên sẵn sàng bỏ ra một khoản phí để trả cho ngân hàng xác nhận.
Để làm được việc này, theo ông Ân, các ngân hàng thương mại trong nước cho vay xuất khẩu cũng phải sát cánh với doanh nghiệp, để hỗ trợ doanh nghiệp.
Ngoài ra, một vấn đề khá nhạy cảm trong hoàn cảnh hiện nay là các ngân hàng thương mại trong nước có quan hệ tín dụng với khách hàng xuất khẩu, phục vụ đơn hàng xuất khẩu, cần rà soát các hợp đồng, kiểm tra kỹ tình hình thanh toán nợ, kiểm soát chặt chẽ các món vay, nhằm phòng tránh rủi ro một cách tốt nhất.
Và đương nhiên, sự cẩn trọng này cũng không thừa đối với các tập đoàn, tổng công ty trong nước trong các hợp đồng, giao dịch lớn với ngân hàng hay đối tác nước ngoài.
* Kết thúc 8 tháng đầu 2008, so với cùng kỳ năm trước, doanh số hàng xuất khẩu Việt Nam đạt 43,3 tỷ USD, tăng 39,1%. Không tính dầu thô và than đá, một số mặt hàng xuất khẩu đạt mức trên một tỷ USD như: dệt may đạt 6 tỷ USD, tăng 20%; giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 18,5%; hàng thủy sản đạt 2,9 tỷ USD, tăng 20,8%; gạo đạt 3,4 triệu tấn, tương đương 2,2 tỷ USD, giảm 4,8% về lượng và tăng 96,1% về kim ngạch; sản phẩm gỗ đạt 1,8 tỷ USD, tăng 20,5%; cà phê đạt 1,5 tỷ USD, tăng 9,2%; cao su đạt 1 tỷ USD, tăng 30,5%. |
|
Last Updated on Monday, 22 September 2008 02:39 |
Bộ Tài chính Mỹ và Cục Dự trữ Liên bang nước này (FED) vừa công bố một kế hoạch lớn nhằm cứu nguy cho thị trường tài chính nước này.
Đây được xem là nỗ lực giải quyết khủng hoảng tài chính toàn diện nhất được các nhà chức trách Mỹ đưa ra từ khi cuộc khủng hoảng này bắt đầu.
Theo kế hoạch nói trên, Chính phủ Mỹ sẽ mua vào các tài sản có tính thanh khoản yếu kém, nói cách khác là các khoản nợ xấu, từ các tổ chức tài chính để giải tỏa gánh nặng cho họ.
Một nguồn tin của CNN cho biết, Bộ Tài chính Mỹ đang cân nhắc ý tưởng thành lập một cơ quan để mua lại các tài sản như trên của các tổ chức tài chính trong thời gian nhiều tháng.
Hãng tin CNN dẫn lời Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Henry Paulson phát biểu sau cuộc họp kéo dài tới tận buổi tối muộn theo giờ địa phương: “Nguyên nhân sâu xa của tình hình căng thẳng trên thị trường vốn chính là sự điều chỉnh của thị trường địa ốc. Do vậy, chúng tôi đang hợp tác để tìm ra một giải pháp khẩn cấp nhằm thẳng vào trọng tâm của vấn đề, đó chính là những tài sản có tính thanh khoản kém trên bảng cân đối kế toán của các tổ chức tài chính”.
Có khả năng, cơ quan mà ông Paulson đang cân nhắc thành lập sẽ tổ chức những cuộc đấu giá lớn để mua lại các loại nợ địa ốc từ các tổ chức tài chính.
Các công ty muốn “rũ bỏ” những tài sản khó bán này sẽ đấu giá để bán cho Chính phủ với mức giá thấp hơn nhiều so với giá trị của các tài sản này. Những công ty đưa ra giá rẻ nhất sẽ là những công ty bán được các tài sản xấu đó.
Sau đó, Chính phủ có thể bán lại những tài sản này ra thị trường vào những thời điểm phù hợp.
Theo công ty nghiên cứu chính sách Standford Group, một cơ quan như vậy sẽ cho phép Chính phủ tái cấp vốn người vay tiền bằng các khoản vay thuộc sở hữu của Chính phủ. Theo đó, sẽ làm giảm bớt nguy cơ vỡ nợ của người vay và cuối cùng sẽ tăng giá của loại chứng khoán địa ốc phát hành dựa trên khoản vay đó.
Hiện kế hoạch nói trên đã được báo cáo lên Thượng viện và Hạ viện Mỹ và đang chờ sự phê chuẩn của các cơ quan này.
Người phát ngôn Nancy Pelosi của Hạ viện Mỹ cho biết, các nhà làm luật Mỹ sẽ nhận được đề xuất chính thức từ Bộ Tài chính Mỹ trong vòng vài giờ tới. “Chúng tôi hy vọng có thể hành động nhanh chóng. Thời gian là vấn đề quan trọng vào lúc này”, bà Pelosi nói.
Theo phát ngôn viên của Bộ Tài chính Mỹ Brookly McLaughlin, ông Paulson, ông Bernanke và những người đứng đầu quốc hội Mỹ sẽ làm việc tới hết cuối tuần này để đi đến một kế hoạch cuối cùng.
Chủ tịch Ủy ban Dịch vụ Tài chính Hạ viện Mỹ Barney Frank cho biết, ông tin rằng, kế hoạch này sẽ được đưa vào thực hiện trong tuần tới.
Tuyên bố nói trên từ các nhà chức trách Mỹ được giới quan sát cho là bước ngoặt quan trọng mới nhất sau 6 ngày biến động mạnh mẽ trên Phố Wall vừa qua, với sự “biến mất” của Lehman Brothers và Merill Lynch, cũng như việc FED bỏ ra 85 tỷ USD để tiếp quản tập đoàn bảo hiểm AIG. Cùng với đó, các tổ chức tài chính khác trong đó có Morgan Stanley và Washington Mutual ra sức huy động vốn hoặc tìm đối tác để sáp nhập.
Tại Mỹ, đã từng có tiền lệ về việc Chính phủ Liên bang mua lại những tài sản có vấn đề từ khu vực tư nhân. Vào thập niên 1930, một tập đoàn đã được thành lập để phát hành trái phiếu nhằm tái cấp vốn các khoản vay cho người vay tiền.
Trong khủng hoảng nợ và tiết kiệm (S&L) tại Mỹ trong thập kỷ 1980, Quốc hội Mỹ cũng thành lập một cơ quan chuyên bán lại tài sản của các ngân hàng bị vỡ nợ.
Kế hoạch trên của Bộ Tài chính Mỹ và FED nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của giới quan sát.
“Đây đúng là một tin tốt lành. Sáng mai, thị trường Mỹ sẽ như bước sang một trang mới. Hy vọng, kế hoạch này sẽ đem niềm tin tới khắp các bàn giao dịch”, bà Marilyn Cohen, giám đốc công ty quản lý tài sản Envision Capital Management ở Los Angeles nhận xét.
(Theo Bloomberg, AP, CNN)
|
|
Last Updated on Friday, 19 September 2008 15:44 |
|
|